LỜI NÓI ĐẦU

 

Được thành lập từ tháng 8 năm 2006, tuy còn gặp muôn vàn gian khó, nhưng trường THPT Tân Lang vẫn không ngừng phát triển, ngày càng khẳng định được vị thế, uy tín trong sự nghiệp giáo dục, là địa chỉ tin cậy của phụ huynh học sinh và nhân dân địa phương.

Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Huyện ủy Phù Yên, Nghị quyết Đại hội Chi bộ nhiệm kỳ 2015-2020, Ban Giám hiệu nhà trường đã phối hợp lực lượng viết bài, sưu tầm nghiên cứu, biên soạn, xuất bản cuốn sách “Trường THPT Tân Lang, 10 năm một chặng đường”. Nội dung cuốn sách gồm 3 phần:

Phần thứ nhất: Khái quát chặng đường 10 năm (2006-2016) xây dựng và phát triển của nhà trường, những cống hiến, đóng góp của nhà trường trong sự nghiệp giáo dục ở địa phương; thành tích của các thầy, cô giáo, nhân viên, học sinh của nhà trường trong quá trình giảng dạy và học tập.

Phần thứ hai: Những trang văn thơ ôn lại kỷ niệm về một thời gian khổ khó khăn nhưng vui vẻ đoàn kết nhân ái trong mối tình đồng chí, tình cảm thầy trò.

Phần thứ ba: Phụ lục danh sách các thế hệ nhà giáo, nhân viên đã và đang công tác tại trường và hình ảnh minh họa.

Trong quá trình sưu tầm tư liệu, phát động viết bài, biên soạn, Ban Giám hiệu nhà trường, Ban biên tập đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tâm huyết, có trách nhiệm của các thế hệ thầy, cô giáo, học sinh của nhà trường. Ban Giám hiệu nhà trường xin trân trọng cảm ơn!

Mặc dù đã rất cố gắng trong công tác sưu tầm, tổ chức viết bài, biên soạn, nhưng do nhà trường còn khó khăn, thời gian triển khai gấp, cuốn sách khó tránh khỏi những hạn chế thiếu sót. Ban Giám hiệu nhà trường rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thế hệ thầy, cô giáo, học sinh nhà trường và bạn đọc xa gần để khi có điều kiện tái bản cuốn sách sẽ đầy đủ, phong phú và sinh động hơn.

Nhân kỷ niệm 10 năm thành lập, nhà trường trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.

     Trưởng ban Biên tập

HIỆU TRƯỞNG

 

 

 

 

PHẦN THỨ NHẤT

 

KHÁI QUÁT CHẶNG ĐƯỜNG

10 NĂM PHÁT TRIỂN

CỦA NHÀ TRƯỜNG (2006-2016)

 

 

KHÁI QUÁT VỀ TRƯỜNG THPT TÂN LANG

Trường THPT Tân Lang, huyện Phù Yên, đóng tại thung lũng Bản Khẻn xã Tân Lang, là trung tâm của các xã vùng Mường, nằm về phía Đông Bắc của huyện, cách Thị Trấn trung tâm huyện 30 Km, cách thành phố Sơn La 155 Km. Trường được thành lập theo QĐ số 2031/QĐ-UBND, ngày 16/8/2006 của UBND tỉnh Sơn La. Trường thành lập trong điều kiện vô cùng khó khăn, chưa có cơ sở vật chất gì, phải mượn trường THCS và thuê một số nhà dân trong giai đoạn đầu mất 5 năm. Đội ngũ giáo viên trong vài năm đầu thiếu nghiêm trọng, đa số mới vào nghề. Học sinh của trường nằm trong các xã bản vùng Mường, thuộc vùng 3 vùng 2 khó khăn của huyện Phù Yên, tỉ lệ học sinh dân tộc hàng năm chiếm 83 %, chủ yếu là dân tộc Mường chiếm 53 %, còn lại là các dân tộc Kinh, Dao, Thái, Mông.

Năm học 2006 – 2007 trường có tổng số lớp là 8 lớp 10 với 414 học sinh. Tổng số cán bộ quản lý và giáo viên mới đầu (vào tháng 8-2006) chỉ có 8 người. Trong đó cán bộ quản lí là 03 (thầy Lò Xuân Dừa – Hiệu trưởng, thầy Hà Ngọc Tư – Hiệu phó, thầy Đinh Văn Ban – Hiệu phó; giáo viên có 05, bao gồm thầy Lường Văn Thành – GV Tin học, thầy Nguyễn Thanh Thùy – GV Thể dục, cô Nguyễn Thị Lệ - GV Văn, cô Nguyễn Thị Phương Thảo – GV Tiếng Anh và cô Nguyễn Thị Thanh Ngân – GV Địa lí. Đến cuối tháng 11 có mới thêm 07 giáo viên và các đồng chí làm công tác văn phòng. Trường có 01 chi bộ Đảng với 03 Đảng viên, do thầy Lò Xuân Dừa làm bí thư, thầy Hà Ngọc Tư và thầy Đinh Văn Ban- Đảng viên. Trường có 2 tổ chuyên môn là Tổ Tự nhiên do đ/c Thân Thị Huệ làm Tổ trưởng và Tổ Xã hội do đ/c Nguyễn Thị Lệ làm Tổ trưởng và một tổ Hành chính. Trường chưa có cơ sở vật chất mà sử dụng chung cơ sở vật chất với trường THCS Tân Lang (học ca sáng, trường học ca chiều).

Bước sang năm học thứ hai (năm học 2007 – 2008): trường có thêm có 869 học sinh/ 19 lớp/44 cán bộ giáo viên; chi bộ có 5 đảng viên. Về cơ sở vật chất nhà trường có 6 nhà tạm/7 phòng học và một số phòng ban chức năng tạm; một khu nhà tạm công vụ giáo viên 12 gian. Mượn 15 phòng học của trường THCS Tân Lang. Các tổ chuyên môn được cơ cấu lại thành các tổ: Tổ Toán – Tin, Tổ Ngữ Văn, Tổ Anh –Sử - Địa – GDCD, Tổ Hóa – Sinh - Thể dục và Tổ Lí – Công nghệ.

Năm học 2008 – 2009: trường có 801 học sinh cơ cấu thành 19 lớp. Hai tổ chuyên môn là Tổ Anh - Sử - Địa – GDCD được tách thành hai tổ: Tổ Tiếng Anh và Tổ Sử - Địa – GDCD.

Năm học 2009 – 2010: trường có 764 học sinh cơ cấu thành 18 lớp. Trường có 02 đồng chí đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh.

Năm học 2010 – 2011: trường có 751 học sinh cơ cấu thành 18 lớp. Ngoài khu phòng học tạm, trường có thêm khu nhà 3 tầng với 12 phòng học và khu nhà bán trú học sinh với 36 phòng. Đây là năm học đầu tiên trường có thành tích trong cuộc thi chọn học sinh giỏi các môn văn hóa cấp tỉnh: 01 giải nhì và 01 giải khuyến khích môn Ngữ Văn (của hai em học sinh: Nguyễn Thị Minh Tín, Phạm Thị Ngọc Ánh).

Năm học 2011 – 2012: trường có tổng số lớp 19 học sinh, tổng số cán bộ giáo viên là 52 được biên chế thành 6 tổ chuyên môn và 1 tổ văn phòng. Trường tiếp tục có học sinh đạt giải cấp tỉnh các môn văn hóa (môn Văn: 01 giải nhì, 01 giải ba; môn Địa lí: 01 giải khuyến khích). Khuôn viên nhà trường được tăng cường thêm hệ thống cây xanh và cây bóng mát theo đặc trưng của vùng: mề gà, chuối, xoan....

Từ năm học 2012 – 2013 đến năm học 2013 – 2014 trường giảm số lớp xuống còn 16, và tiếp tục hoàn thiện thêm cơ sở vật chất (cổng trường, tường rào, sân trường); năm học 2014 – 2015 về quy mô trường, lớp giảm xuống còn 15 lớp, với tổng số cán bộ giáo viên nhân viên là 49, tiếp tục đưa thêm công trình phòng bảo vệ và phòng y tế vào sử dụng. Năm 2015, trường vinh dự có thêm 7 đồng chí giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh. Trường cũng vinh dự có 01 học sinh lọt vòng thi chọn học sinh giỏi quốc gia môn Địa lí là học sinh Hà Mạnh Tú. Năm học 2015-2016, trường đã có thành tích lớn trong cuộc khi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh các môn văn hóa: đạt 13 giải, trong đó: có 03 bộ môn lần đầu tiên có học sinh đạt giải môn: Ngoại ngữ, Vật lí, Lịch sử. Lần đầu tiên tham dự cuộc thi KHKT học sinh cấp tỉnh đạt giải Ba.

Trải qua gần 10 năm thành lập đến nay, trường có 48 cán bộ giáo viên, trong đó: Ban Giám hiệu 03 đồng chí, 36 giáo viên giảng dạy, 09 đồng chí là nhân viên, được biên chế thành 6 tổ chuyên môn và 01 tổ văn phòng. Đội ngũ cán bộ giáo viên của nhà trường ngày càng vững vàng về chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng các yêu cầu đổi mới trong giáo dục. Tổng số học sinh toàn trường: 630 được biên chế thành 16 lớp, rồi rút xuống còn 15 lớp để tiết kiệm biên chế. Chất lượng giáo dục học sinh của nhà trường ngày càng tăng mạnh năm sau cao hơn năm trước.

 

 

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH

VÀ PHÁT TRIỂN CỦA

CHI BỘ TRƯỜNG THPT TÂN LANG

Chi bộ Trường THPT Tân Lang được thành lập từ tháng 10 năm 2006. Ban đầu cả chi bộ chỉ có 03 đảng viên:

1. Đ/c Lò Xuân Dừa -Bí thư chi bộ

2. Đ/c Hà Ngọc Tư - Đảng viên

3. Đ/c Đinh Văn Ban- Đảng viên

Đến năm 2008 chi bộ có thêm 02 đảng viên, đưa tổng số đảng viên trong chi bộ thành 08 đồng chí. Từ năm 2008 đến năm 2012, chi bộ có 15 đảng viên, cuối năm 2012 thành lập Ban chi ủy có 03 đồng chí :

1. Đ/c Lò Xuân Dừa- Bí thư chi bộ

2. Đ/c Hà Ngọc Tư- Phó bí thư

3. Đ/c Nguyễn Thị Lệ - Chi ủy viên

Từ năm 2013 đến năm 2016 chi bộ kết nạp thêm được 15 đồng chí, đưa tổng số đảng viên của chi bộ lên 30 đồng chí. Hiện nay đã có 4 đồng chí đã chuyển sinh hoạt đảng do chuyển công tác.

Đại hội chi bộ nhiệm kì III (2015-2020), chi bộ đã bầu được 5 đồng chí vào Ban chi ủy, bao gồm :

1. Đ/c Lò Xuân Dừa- Bí thư chi bộ

2. Đ/c Hà Ngọc Tư -Phó bí thư

3. Đ/c Nguyễn Thị Lệ - Chi ủy viên

4. Đ/c Sầm Ngọc Khuyến-Chi ủy viên

5. Đ/c Nguyễn Thị Hà- Chi ủy viên

Tháng 02 năm 2016 đồng chí Hà Ngọc Tư chuyển công tác, chi bộ đã bầu và đang lập tờ trình đề nghị bổ sung 01 đ/c Phó bí thư Đ/c Nguyễn Thị Lệ và 01 đ/c Chi ủy viên chi bộ Đ/c Đinh Đức Đại.

Trong suốt 10 năm qua, Chi bộ không ngừng vươn lên cả về số lượng và chất lượng. Hiện nay chi bộ Trường THPT Tân Lang gồm 26 Đảng viên đa số có trình độ Đại học, trong đó có 01 đ/c có trình độ tiến sĩ, 01 đ/c thạc sỹ, đa số là lực lượng trẻ .

Chi bộ luôn đạt chi bộ "trong sạch vững mạnh"

Mười năm qua, Chi bộ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cao cả của mình: lãnh đạo thực hiện có hiệu quả các chủ trương, các mục tiêu công tác chuyên môn, thực hiện đúng chính sách, pháp luật của nhà nước, làm tốt công tác vận động quần chúng, đoàn kết xây dựng tập thể thành một khối thống nhất góp phần quyết định làm nên thành tích vẻ vang. Chi bộ luôn được công nhận là cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh. Nhà trường nhiều năm được công nhận là đơn vị Tiên tiến xuất sắc của ngành Giáo dục đào tạo Sơn La. Xứng đáng là một địa chỉ đáng tin cậy về chất lượng giáo dục của huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La

Nhân dịp kỷ niệm 10 năn ngày thành lập trường THPT Tân Lang, chúng tôi xin ghi lại một số mốc thời gian cùng với một số sự kiện đáng ghi nhớ trong quá trình phát triển của Chi bộ Đảng nhà trường.

Chi bộ trường THPT Tân Lang, được thành lập vào giữa năm 2007, nhằm lãnh đạo nhà trường thực hiện đường lối chủ trương của Đảng về các hoạt động giáo dục gồm 03 đồng chí.

Thời gian từ 2007 đến nay, vì là một trường mới thành lập lại được đặt ở vùng miền núi, cách xa trung tâm huyện lỵ nên công việc của trường gặp nhiều khó khăn. Chi bộ xác nhận nhiệm vụ trọng tâm là làm rõ tính ưu việt của nền giáo dục XHCN trên địa bàn huyện, nhanh chóng ổn định các tổ chức quần chúng: Đoàn thanh niên và Công đoàn. Vừa giảng dạy, vừa xây dựng cơ sở vật chất ( lúc mới thành lập trường chưa hệ thống phòng học, phòng ban chức năng năm học 2006- 2007, trường bắt đầu tuyển sinh khóa 1, cơ sở vật chất phải đi mượn hoàn toàn của Trường THCS Tân Lang).

Cuối năm 2007, trường được nhận bàn giao trường mới, chỉ có 1 khu lớp học gồm 2 dãy nhà tạm nằm giữa cánh đồng trơ chọi của bản Tiên Lang, lại một lần nữa tập thể Chi bộ nhà trường phải vượt qua thử thách mới. Chi bộ xác định nhiệm vụ giai đoạn này là: Giữ vững và ổn định về tư tưởng chính trị, về chất lượng giáo dục, thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua “ Hai tốt”, từng bước phát triển cơ sở vật chất, xây dựng đội ngũ, nâng cao đời sống giáo viên. Chi bộ đề ra giải pháp “Hãy tự cứu mình, trước khi người cứu”…

Sau đại hội chi bộ nhiệm kỳ lần thứ nhất ( 2010 – 2015)

Thầy Lò Xuân Dừa - Hiệu trưởng - Bí thư Chi bộ: Chi bộ xác nhận đây là giai đoạn THPT Tân Lang, tỏ rõ bản lĩnh chính trị, đưa sự nghiệp GD ở trường lên một vị trí xứng đáng hơn, với mục tiêu: ổn định lâu dài và phát triển. Chú trọng việc xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ GV, tăng cường cơ sở vật chất, chất lượng HS gắn với xã hội hoá giáo dục…

Từ đó đến năm 2016 Đ/c Lò Xuân Dừa – Hiệu trưởng – Bí thư chi bộ: Trong 10 năm này, vai trò lãnh đạo của Chi bộ được khẳng định rõ nét hơn: Chi bộ thường xuyên chăm lo công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức trong CBGV và HS bằng nhiều hình thức. Công tác xây dựng Đảng có kế hoạch, có chiều sâu. Công tác lãnh và chỉ đạo hoạt động của Công đoàn và Đoàn thanh niên nhà trường sâu sát, kịp thời có hiệu quả. Việc lãnh đạo công tác hoạt động văn hoá – khoa học, thực hiện nhiệm vụ chính trị an ninh quốc phòng… thu được thắng lợi to lớn. Nổi bật nhất là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, đổi mới cách ra đề kiểm tra, cách kiểm tra… nhằm đánh giá đúng chất lượng, không để tình trạng HS “ ngồi nhầm lớp”. Nhiều Đảng viên của Chi bộ, vượt qua khó khăn, trở thành tấm gương trong việc tự học nâng cao trình độ. CSVC ngày càng được tăng cường, đáp ứng việc dạy và học hiện nay. Tỷ lệ HS tốt nghiệp và vào các trường ĐH – CĐ ổn định ở mức khá cao.

Sau đây là một vài số liệu đáng lưu ý: 2007 đến 2015

+ Kết nạp Đảng viên mới: 23.

+ Cao cấp lý luận : 01

+ Trung cấp lý luận : 05

+ Chi bộ: liên tục “ trong sạch vững mạnh”

+ Công đoàn: liên tục “Công đoàn cơ sở vững mạnh”

+ Đoàn trường: liên tục “Đoàn vững mạnh toàn diện”

+ Thành tích chung: Trường tiên tiến, tiên tiến xuất sắc

Hiện nay, Chi bộ có 25 đảng viên chiếm 52% trong tổng số 48 CBGV của trường. Hai ba đảng viên có trình độ Đại học, trong đó có 02 đồng chí tốt nghiệp Cao học (Tiến sĩ, Thạc sĩ) Đa số đảng viên đã qua nhiều năm công tác, có tâm huyết với nghề nghiệp, có năng lực chuyên môn và nghiệp vụ công tác tốt. Nhiều đồng chí đảm nhiệm các cương vị chủ chốt trong nhà trường, các đoàn thể và tổ chuyên môn. Chi bộ luôn luôn xứng đáng với sự tin yêu của tập thể sư phạm nhà trường.

Tự hào với thành tích đã đạt được, trường THPT Tân Lang với hạt nhân lãnh đạo là Chi bộ Đảng, vững vàng bước tiếp chặng đường 10 năm qua, viết thêm những trang mới góp phần tô đẹp thêm thành tích 10 năm trường THPT Tân Lang.

TG. Đinh Văn Ban-P.HT

 

BAN GIÁM HIỆU 

1. Hiệu trưởng: TS. Lò Xuân Dừa

- Sinh ngày 28/8/1966

- Dân tộc: Thái

- Quê quán: Tường Tiến- Phù Yên - Sơn La

- Thời gian giữ chức vụ: từ tháng 8 năm 2006 đến 01/7/2017

Hiệu trưởng: ThS. Lê Quang Đạt

- Sinh ngày 1980

- Dân tộc: Kinh

- Quê quán:

- Thời gian từ 01/7/2017

 

 

2. Phó hiệu trưởng: Hà Ngọc Tư

- Sinh ngày 05/8/1966

- Dân tôc: Kinh

- Quê quán: Tiền Hải - Thái Bình

- Thời gian giữ chức vụ: từ tháng 8 năm 2006 đến tháng 02 năm 2016

3. Đinh Văn Ban

- Sinh ngày 17/6/1972

- Dân tộc: Mường

- Quê quán: Tân Phong - Phù Yên - Sơn La

- Thời gian giữ chức vụ: từ tháng 8 năm 2006 đến nay

4. Nguyễn Hồng Hà

- Sinh ngày 02/4/1977

- Dân tộc: Kinh

- Quê quán: Nam Thượng - Nam Đàn - Nghệ An

- Thời gian giữ chức vụ: từ tháng 7 năm 2011 đến tháng 12 năm 2011

5. Nguyễn Thị Lệ

- Sinh ngày 14/5/1983

- Dân tộc: Thái

- Quê quán: Huy Tân - Phù Yên - Sơn La

- Thời gian giữ chức vụ: từ tháng 10 năm 2016 đến nay.

TG. Đinh Văn Ban-P.HT

 

 

TỔ TOÁN - TIN

Tổ Toán – Tin trường THPT Tân Lang được thành lập từ năm 2007 sau thành lập trường một năm, được tách ra từ Tổ Tự nhiên của trường. Qua gần mười năm thành lập, tổ đã có một số đồng chí chuyển nơi công tác mới và đảm nhiệm các chức vụ cao hơn như: thầy Hà Ngọc Tư nguyên là Phó Hiệu trưởng chuyển lên làm Hiệu trưởng trường THPT Gia phù; thầy Nguyễn Hồng Hà - nguyên là Chủ tịch Công đoàn, rồi Phó Hiệu trưởng, chuyển lên làm CVP huyện ủy, rồi làm Trưởng phòng Giáo dục huyện; thầy Nguyễn Hoàng Bình đã hoàn thành lớp đào tạo thạc sĩ và chuyển công tác tại trường THPT Thạch Bàn, Hà Nội. Đến nay, tổ chúng tôi gồm 7 đồng chí dạy hai môn Toán và Tin. Các đồng chí trong tổ đều có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình trong công việc, phấn đấu để được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Hiện tổ đã có 6 đảng viên, một đồng chí đang được công nhận đối tượng Đảng.

Trong những năm qua cùng với sự lớn mạnh của nhà trường tổ Toán Tin cũng đã đạt được nhiều thành tích đóng góp vào thành tích chung của nhà truờng. Tổ thường xuyên đạt danh hiệu tổ lao động tiên tiến xuất sắc trong các năm học từ năm 2007 đến nay. Tất cả các đồng chí trong tổ đều đã đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác giảng dạy. Toàn tổ đã thực hiện tốt kỷ cương nề nếp của nhà trường, thực hiện tốt mọi quy chế chuyên môn. Tích cực đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của nhà trường. Mọi giáo viên trong tổ đều có ý thức tự học, tự bồi dưỡng và thường xuyên trao đổi trong tổ, nhóm chuyên môn để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thường xuyên nghiên cứu và ứng dụng CNTT một cách hiệu quả vào dạy học. Hằng năm, 100% số giáo viên đạt danh hiệu lao động tiên tiến, có từ 2 đến 5 giáo viên danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở” và lao động tiên tiến xuất sắc. Các đồng chí trong tổ đều rất tích cực và nhiệt tình trong công tác bồi dưỡng học sinh khá giỏi và phụ đạo học sinh yếu kém để nâng cao chất lượng học tập bộ môn của học sinh.

Đặc biệt tổ Toán - Tin còn là một tập đoàn kết, nhất trí, vượt qua khó khăn phấn đấu hoàn thành suất sắc nhiệm vụ được giao, tích cực tham gia các hoạt động của các tổ chức đoàn thể như công đoàn, đoàn thanh niên, hội chữ thập đỏ tổ chức.

Trong thời gian tới phát huy những thành tích đã đạt được tổ Toán - Tin quyết tâm phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ đựợc giao, đáp ứng yêu cầu dạy học trong thời kỳ mới.

TG. Thân Thị Huệ-TT, GV Toán

 

 

 

 

TỔ NGỮ VĂN

 

Tổ Ngữ Văn trường THPT Tân Lang được thành lập năm 2007 sau khi nhà trường thành lập được 1 năm. Tổ được tách từ tổ Xã hội của nhà trường. Số lượng thành viên ban đầu gồm 5 thành viên và giảng dạy môn: Ngữ Văn (đầu năm 2007 có đ/c Nguyễn Thị Phương Thanh chuyển công tác). Tất cả các đồng chí trong tổ đều đã đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ chuyên môn. Hiện nay số lượng thành viên của tổ là 7 đồng chí. Đa số các đồng chí đã có kinh nghiệm về chuyên môn, nghiệp vụ ít nhất là từ 4 năm công tác trở lên.

Trong tổ có đồng chí Lò Xuân Dừa (Bí thư chi bộ, Hiệu trưởng nhà trường) đã đạt trên chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ (Tiến sĩ –chuyên ngành Văn hóa học), đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp giáo dục của nhà trường từ khi trường mới thành lập, là Hội viên các Hội VNDG VN, Hội Văn học nghệ thuật, Hội KH Lịch sử, đồng chí cũng có nhiều đóng góp cho các hoạt động bảo tồn, phục dựng văn hóa của huyện nhà. Trong tổ còn có đồng chí Đinh Văn Ban (Hiệu phó nhà trường) đã có nhiều năm công tác, có nhiều kinh nghiệm trong công tác chuyên môn, công tác đoàn và phong trào thanh niên. Trong tổ còn có đồng chí Nguyễn Thị Lệ mới được bổ nhiệm chức vụ Phó Hiệu trưởng từ 15/10/2016. Tổ có 2 đồng chí: Nguyễn Duy Hùng, Nguyễn Thị Lệ đã đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp trường 3 năm liên tiếp và đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh năm học 2014-2015; có đồng chí Trần Thị Bản là giáo viên dạy giỏi cấp trường 2 năm liền. Tổ có 4/7 thành viên là cán bộ nữ, đều đã có kinh nghiệm trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ.

Hiện nay trong tổ có 5 Đảng viên là các đồng chí: Lò Xuân Dừa, Đinh Văn Ban, Nguyễn Duy Hùng, Nguyễn Thị Lệ, Trần Thị Bản, một đồng chí được công nhận là đối tượng là: Vũ Thị Như Hoa. Các đồng chí trong tổ cũng giữ những trọng trách khác nhau về đảng, chính quyền, đoàn thể trong các tổ chức như: đồng chí Lò Xuân Dừa giữ chức vụ Bí thư chi bộ, Hiệu trưởng nhà trường, đồng chí Đinh Văn Ban là Hiệu phó nhà trường, đồng chí Nguyễn Thị Lệ là chi ủy viên chi bộ.

Trong các năm học từ năm 2009 đến nay tổ đều có đội tuyển học sinh giỏi bộ môn tham gia thi cấp tỉnh và đạt các giải từ khuyến khích đến giải nhì. Hằng năm 100% các thành viên đều đạt danh hiệu thi đua đã đăng kí: lao động tiên tiến, lao động tiên tiến xuất sắc, chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, chiến sĩ thi đua cấp tỉnh.

Từ năm 2008 đến năm 2015 tổ nhiều lần được Sở giáo dục và Ủy ban nhân tỉnh Sơn La khen và công nhận các danh hiệu Tổ Lao động tiên tiến, 4 lần được công nhận danh hiệu tổ Lao động xuất sắc, 01 lần được UBND tỉnh Sơn La tặng bằng khen.

Để đạt được những kết quả như trên, hằng năm tổ đều tập trung thực hiện tốt những vấn đề như: Xây dựng kế hoạch tổ bám sát theo kế hoạch chung của trường và dựa vào đặc điểm tình hình của tổ ngay từ đầu năm học, có sự điều chỉnh kế hoạch giữa các tuần trong tháng.

Trong các buổi sinh hoạt tổ thường kì, ngoài đánh giá công tác chung và triển khai các kế hoạch, tổ đã tiến hành trao đổi các chuyên đề chuyên môn cơ bản trong đó tập trung vào các vấn đề: đổi mới phương pháp dạy học, công tác ra đề kiểm tra theo ma trận, phụ đạo học sinh yếu kém, bồi dưỡng học sinh giỏi, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, ôn thi tốt nghiệp….

Trong năm học tổ cũng đã triển khai và thực hiện tốt nội dung sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học (tổ đã tiến hành nghiên cứu được những bài học khó và dài tập trung vào môn Văn của cả 3 khối 10,11,12); Tổ chức bồi dưỡng tập trung theo cấp độ tổ chuyên môn về công tác chuyên môn nghiệp vụ cho các thành viên trong tổ; Hồ sơ chuyên môn của các thành viên trong tổ cũng được kiểm tra, đánh giá, xếp loại theo định kì; Các thành viên trong tổ đều đoàn kết, nhất trí cao trong quá trình lên kế hoạch thực hiện các nhiệm vụ được giao. Các giờ dự của các thành viên đều đã chú trọng đến: đổi mới phương pháp, ứng dụng các phương tiện hỗ trợ dạy học hiện đại.

Trong năm học 2016 – 2017 tổ Ngữ Văn chủ trương tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được để góp phần vào thành tích chung của trường.

TG. Nguyễn Duy Hùng-

TT, GV Ngữ Văn

 

TỔ SỬ - ĐỊA – GDCD

Trường THPT Tân Lang được thành lập tháng 8 năm 2006 với 2 tổ chuyên môn là tổ Tự nhiên và tổ Xã hội do ban đầu số lượng giáo viên của trường còn rất ít. Tổ xã hội là tiền thân của tổ Sử- Địa- GDCD hiện nay. Cùng với sự tăng nhanh quy mô lớp và học sinh, số giáo viên các môn cũng được Sở giáo dục tuyển thêm để đáp ứng nhu cầu nhân sự cho trường. Nên đến năm 2008, cùng với 3 tổ chuyên môn khác là tổ: Ngoại Ngữ, Sinh- Hóa- TD, Lí- Công nghệ thì tổ Sử- Địa-GDCD cũng chính thức được thành lập.

Tổ có 6 thành viên trong đó có 2 đồng chí dạy Địa lí,1 đ/c dạy GDCD và 3 đ/c dạy Sử. Tất cả các tổ viên đều còn rất trẻ, đều rất hăng say, nhiệt tình với sự nghiệp trồng người, có tinh thần cầu tiến. Hiện nay tổ có 6 thành viên, trong đó đứng đầu là đ/c Nguyễn Thị Thanh Ngân dạy môn Địa lý làm tổ trưởng, tổ phó là Đ/c Đinh Đức Đại dạy môn Lịch Sử, tổ trưởng công đoàn là đ/c Nguyễn Thị Hà dạy môn GDCD. Trong tổ hiện có 03 Đảng viên và 1 quần chúng ưu tú. Thành phần dân tộc của tổ đa số là dân tộc Kinh 4/6 đ/c, có 2 đ/c là dân tộc Thái. Với cơ cấu giới tính là 4 nữ , 2 nam tất cả các tổ viên của tổ đều đã đạt chuẩn với trình độ chuyên môn là đại học được đào tạo chính quy từ các trường Đại học Sư phạm I Hà Nội, Đại học Sư phạm Thái Nguyên và ĐH Tây Bắc.

Với tiêu chí hoạt động là: Đoàn kết- nỗ lực cùng phấn đấu vì sự nghiệp trồng người, các đồng chí trong tổ luôn phấn đấu để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong 3 năm học 2009-2010, 2011- 2012, 2015-2016 , tổ đã vinh dự đạt danh hiệu thi đua Tổ lao động tiên tiến, Sở GD Sơn La tặng giấy khen. Trong tổ cũng có đ/c đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp trường như đ/c Nguyễn Thị Thanh Ngân, Đinh Đức Đại, Nguyễn Thị Hà.

Tổ Sử - Địa- GDCD cũng là tổ có nhiều biến động về nhân sự, số giáo viên chuyển đi và chuyển đến nhiều nhất trong trường đặc biệt là GV môn Sử. Chuyển đi có 3 đồng chí dạy Sử là Đ/c Lò Việt Dũng, Đ/c Đinh Thanh Hùng và đồng chí Hoàng Trọng Đại, môn GDCD là đ/c Nguyễn Thị Hải. Chuyển đến có đ/c Trần Xuân Bình, Đinh Đức Đại.

Các thành viên trong tổ đều là giáo viên trẻ, nhưng chịu khó học hỏi để không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm. Vì thế một số đồng chí dần dần có kinh nghiệm trong giảng dạy và trong bồi dưỡng học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp trường đạt kết quả khá cao trong các năm dự thi, tiêu biểu như bộ môn Địa lí. Trong năm 2015-2016, bộ môn Lịch sử cũng có 2/3 em đi thi đạt danh hiệu học sinh giỏi cấp tỉnh.

TG. Nguyễn T. Thanh Ngân-TT, GV Địa

 

 

TỔ HÓA – SINH – THỂ DỤC

 

Tổ Hóa – Sinh – Thể dục trường THPT Tân Lang được thành lập tháng 01/ 2008. Gần 10 năm qua, dưới sự lãnh đạo sát sao của Chi bộ, Ban Giám hiệu nhà trường, sự giúp đỡ, hợp tác của các tổ chức đoàn thể trong, ngoài trường, sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của các đồng chí Giáo viên trong tổ, Tổ Hóa – Sinh – TD đã có bước chuyển mình về cả lượng và chất, đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

Tổ được tách từ tổ Tự nhiên của trường THPT Tân Lang. Tổ giảng dạy các môn: Hóa, Sinh, Thể dục. Hiện nay có 9 thành viên gồm 3 nữ và 6 nam đều trẻ, khỏe nhiệt tình có trình độ chuyên môn đạt chuẩn, 1 đồng chí có trình độ Thạc sĩ. Các đồng chí đều yêu nghề, luôn hăng say với công việc, có 2 đồng chí là giáo viên dạy giỏi cấp trường, 1 đồng chí là giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh. Hiện nay tổ có 4 Đảng viên là đồng chí: Phan Văn Trụ, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Thế An và đồng chí Bùi Thị Khánh.

Dù nhà trường còn gặp muôn vàn khó khăn nhưng không vì thế mà làm cho các đồng chí nhụt chí, hầu hết các đồng chí đều cố gắng cần mẫn tích luỹ tri thức góp phần làm nên những thành tích chung của nhà trường như đồng chí Phan Văn Trụ, là một trong hai đồng chí có trình độ trên chuẩn, là giáo viên dạy giỏi cấp trường, cấp tỉnh, được Liên đoàn Lao động Tỉnh tặng Bằng khen, liên tiếp nhiều năm là Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở và nhiều khen thưởng khác.

Ngoài công việc đứng lớp, các thành viên của tổ còn tích cực tham gia vào các hoạt động văn hóa, văn nghệ TDTT, đặc biệt các đồng chí bộ môn TD, GDQP còn tổ chức huấn luyện cho học sinh để tham gia hội thao Quốc phòng toàn Tỉnh và đã giành được một số giải thưởng. Trong các hoạt động TDTT do Công đoàn, đoàn Thanh niên tổ chức các đồng chí trong tổ rất nhiệt tình tham gia trong Ban tổ chức, tổ trọng tài, vận động viên và đạt các giải cao như giải nhất cầu lông đôi nam, nhất, nhì đôi nam – nữ….

Trong thời gian tới phát huy những thành tích đã đạt được tổ Hóa – Sinh – Thể dục quyết tâm phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu dạy học trong thời kỳ mới bằng các việc làm cụ thể như: Thi đua dạy tốt, bước đầu hoàn thành mô hình vườn thực nghiệm, huấn luyện học sinh giỏi bộ môn Hóa, Sinh, học sinh dự thi hội thao có giải thưởng... các thành viên trong tnêu cao truyền thống đoàn kết, dân chủ luôn sát cánh cùng nhau xây dựng tổ, góp phần xây dựng Trường THPT Tân Lang đoàn kết, phát triển, xứng đáng với lòng tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

TG. Phan Văn Trụ-TT, GV Hóa

 

 

TỔ VẬT LÝ- CÔNG NGHỆ

Trước nhiệm vụ lớn lao và vinh quang của nhà trường, tập thể cán bộ giáo viên và các thế hệ học sinh luôn cố gắng vượt qua khó khăn, tô thắm truyền thống vẻ vang của nhà trường, trong đó có sự cố gắng nỗ lực không ngừng của tố Vật lí - Công nghệ.

Cùng với quá trình xây dựng và phát triển của nhà trường năm học 2016 – 2017, trường THPT Tân Lang – Phù Yên - Sơn La vừa tròn 10 năm thành lập. Hiện nay, tổ Vật lí – Công nghệ gồm 6 thành viên. Các thầy cô giáo trong tổ đều còn rất trẻ nhưng đã khẳng định được mình, vững trong chuyên môn, nhiệt tình trong các hoạt động tập thể. Tất cả các thầy cô giáo đều sẵn sàng đáp ứng được yêu cầu trước mắt và lâu dài của nhà trường.

Từ nhiều năm nay, Tổ Vật lí - Công nghệ tổ chức và duy trì có hiệu quả phong trào đổi mới về nội dung, chương trình, đổi mới phương pháp giảng dạy, phụ đạo học sinh yếu kém và bồi dưỡng học sinh giỏi vật lí. Các thành viên trong tổ đều chú ý đúng mức đến công tác nghiên cứu khoa học, đúc rút kinh nghiệm, tự học, tự bồi dưỡng, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm. Các giờ sinh hoạt tổ đã thực sự đi vào chiều sâu, những vấn đề khó trong chương trình được đưa ra thảo luận và trao đổi để tìm cách giải quyết. Có tác dụng khuyến khích giáo viên tìm tòi sáng tạo và nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, đồng thời cũng giúp cho việc trao đổi kinh nghiệm giảng dạy một cách thiết thực có tác dụng tốt. Hiện nay, tất cả giáo viên trong tổ đã sử dụng thành thạo máy vi tính và khai thác tài liệu qua mạng Internet. Đặc biệt, chủ trương soạn và giảng bài bằng giáo án điện tử của nhà trường đã được mọi thành viên trong tổ nhiệt tình hưởng ứng, xây dựng bài học định hướng phát triển năng lực học sinh, bài học chủ đề, TNST.

Hôm nay chúng tôi những người chuyển giữ bó đuốc truyền thống vẫn đang gắng hết sức mình cho sự nghiệp chung đó. Chúng tôi mang theo niềm tin, sự say mê của những thế hệ đi trước vào từng bài giảng của mình, mong muốn góp thêm những thành công mới, xứng đáng hơn nữa với truyền thống của nhà trường năm qua bởi vật lí là niềm say mê, là khát vọng sáng tạo ra cái mới. Chúng tôi muốn truyền ngọn lửa khát vọng đó cho các em học sinh và hy vọng rằng một ngày không xa sẽ gặt hái được những trái chín ngọt ngào.

TG. Trần Xuân Thao-TT, GV Vật Lí

 

 

TỔ TIẾNG ANH

 

Tổng số thành viên trong tổ 5 đồng chí đều là nữ, đều có trình độ chuyên môn đạt chuẩn, thành phần dân tộc: 2/5; Đảng viên: 2/5.

Tổ Tiếng Anh được tách từ tổ Xã hội của trường THPT Tân Lang từ những năm đầu thành lập (8/2006), tới năm học 2008-2009 đến năm học 2009 – 2010 tổ được tách thành tổ Anh – Sử - Địa – GDCD. Từ năm học 2010 – 2011, chính thức thành lập tổ Tiếng Anh. Tổ có 5 thành viên trẻ khỏe nhiệt tình có trình độ chuyên môn, yêu nghề mến trẻ, luôn hăng say với công việc.

Cùng với chặng đường phát triển của trường THPT Tân Lang, các thành viên trong tổ luôn nêu cao truyền thống đoàn kết, dân chủ, nhân văn. Từ khi thành lập đến nay, tổ Tiếng Anh luôn là tập thể đoàn kết, nhất trí, các thành viên trong tổ luôn sát cánh cùng nhau xây dựng Trường THPT Tân Lang đoàn kết gắn bó, xứng đáng với lòng tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Dù nhà trường còn gặp nhiều khó khăn, nhưng hầu hết các đồng chí đều cố gắng cần mẫn tích luỹ tri thức góp phần làm nên những thành tích chung của nhà trường như đồng chí Lò Thị Đào, tổ trưởng tổ Anh, đ/c Nguyễn Thị Phương Thảo, đ/c Cầm Thị Bình,... Cũng chính từ phong trào giảng dạy sôi nổi mà trong những năm qua, các thầy cô giáo trong tổ hầu hết đều đạt danh hiệu Lao động Tiến tiến, Đ/c Lò Thị Đào đã đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở đồng thời đồng chí cũng đạt được danh hiệu “Giáo viên dạy giỏi cấp THPT”.

Ngoài công việc đứng lớp, các thành viên của tổ còn tích cực tham gia công tác xây dựng đề tài sáng kiến kinh nghiệm để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Tổ nhiều năm liền hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và cũng đã đạt được một số thành tích là“Tập thể lao động tiên tiến” do Giám đốc sở GD Sơn La tặng giấy khen. Tổ cũng đã thành lập “Câu lạc bộ Tiếng Anh” nhằm giúp học sinh củng cố và nâng cao vốn kiến thức và kỹ năng về bộ môn đồng thời cũng là một dịp vui chơi giải chí cho học sinh sau những buổi học căng thẳng.

Ngoài thực hiện nhiệm vụ giảng dạy môn Tiếng Anh, tổ còn có đồng chí được giao nhiệm vụ dạy giáo dục hướng nghiệp, hoạt động ngoài giờ lên lớp, 2 đồng chí được giao công tác chủ nhiệm. Tổ đã thường xuyên trao đổi về phương pháp dạy học theo tinh thần đổi mới và đặc trưng riêng của bộ môn, đã thu được những kết quả tốt.

Trong năm học 2015-2016 là năm đầu tiên tổ có một học sinh đi thi học sinh giỏi cấp tỉnh và đạt giải khuyến khích (do đồng chí Lò Thị Đào hướng dẫn)

Tổ đã đạt các danh hiệu thi đua: 3 lượt là Tổ Lao động tiên tiến, Giám đốc Sở tặng giấy khen, 2 lượt là Tổ Lao động xuất sắc, Giám đốc Sở tặng giấy khen

TG. Lò Thị Đào-TT, GV tiếng Anh

 

TỔ VĂN PHÒNG

Tổ Văn phòng trường THPT Tân Lang được thành lập cùng hai tổ chuyên môn vào năm 2006, với tên gọi ban đầu là tổ Hành chính, ban đầu có 05 thành viên. Đến năm học 2008 – 2009 đến nay tổ đổi tên là tổ Văn phòng.

Hiện nay, tổ Văn phòng có 09 thành viên, trong đó có 03 đ/c là Đảng viên, 02 đ/c có trình độ Đại học, 04 đ/c có trình độ Cao đẳng, 03 đ/c có trình độ trung cấp. Tổ văn phòng do đồng chí Lò Văn Thi làm tổ trưởng, tổ thực hiện các nhiệm vụ hành chính và phục vụ như: Kế toán tài vụ, thủ quỹ, thư viện, văn thư, thiết bị thí nghiệm, Y tế học đường, bảo vệ và phục vụ, cụ thể như:

1. Bộ phận bảo vệ: phụ trách đ/c Lò Văn Thi và đ/c Sa Đình Phúc: trực tiếp bảo vệ bảo đảm cơ sở vật chất, phát huy những tài sản nhà trường vào việc phục vụ dạy - học, tạo cảnh quan sạch đẹp cho nhà trường.

2. Bộ phận thư viện (đ/c Lê Ngọc Dương): Giới thiệu sách cho giáo viên và học sinh, cho mượn sách và tài liệu tham khảo, phục vụ công tác dạy học, sách tuyên truyền giáo dục pháp luật... Tư vấn giới thiệu sách tham khảo cho các cuộc thi tìm hiểu, đợt sinh hoạt chủ điểm …

3. Bộ phận kế toán tài vụ (đ/c Vũ Anh Đông) đã thực hiện tốt chức năng tham mưu về điều hành, quản lý tài chính, bảo đảm ngân sách chi tiêu đúng mục đích, kịp thời, tiết kiệm, chống lãng phí.

4. Bộ phận thủ quỹ (đ/c Đinh Thị Nhung). Quản lý các loại quỹ đúng theo quy định pháp luật hiện hành, kiêm tổ chức nấu ăn bán trú.

5. Bộ phận văn thư lưu trữ (đ/c Cầm Thị Trang) bảo đảm việc quản lý thu phát các văn bằng chứng chỉ, các loại hồ sơ sổ sách của nhà trường. Lưu thông và phát các loại công văn đi đến của nhà trường.

6. Bộ phận Y tế nhà trường (đ/c Nguyễn Văn Kỳ) phụ trách công tác Y tế, vệ sinh môi trường nguồn nước, bếp ăn, tuyên truyền phòng chống, tránh các loại dịch bệnh; cấp phát thuốc sơ cứu chăm sóc sức khỏe ban đầu cho cán bộ giáo viên và các em học sinh.

7. Bộ phận phục vụ (đ/c Mùi Văn Đăng) đảm bảo các phòng ban, các lớp học, cảnh quan nhà trường luôn sạch đẹp.

8. Bộ phận thiết bị thí nghiệm (đ/c Lê Văn Minh) quản lý khai thác sử dụng các loại dụng cụ thiết bị phục vụ các tiết học về thí nghiệm thực hành các bộ môn.

TG. Lò Văn Thi-TT.VP

 

MƯỜI NĂM-MƯỜI DẤU ẤN KHÓ KHĂN ĐÃ VƯỢT QUA

 

Vào năm 2016, trường THPT Tân Lang chuẩn bị kỷ niệm 10 năm thành lập trường vào tháng 11/2016. Lòng ta lại thấy nao buồn xen lẫn niềm vui, pha chút tự hào khó tả. “Mười năm ấy biết bao nhiêu tình” xuất hiện trong khó khăn, thiếu thốn nhưng vẫn tràn ngập niềm vui. Vì thế, ta thử tổng kết lại 10 khó khăn nổi bật để thầy rằng: chính từ những khó khăn ấy, con người cần phải có nghị lực sống; đoàn kết và trách nhiệm; yêu thương và gắn bó; thậm chí phải hi sinh để đưa đò đem ánh sáng tri thức kỹ năng đến với con em vùng Mường vốn còn khó khăn.

1. Một trường mới thành lập mà phải trải qua bao khó khăn thiếu thốn. Ban đầu trường đã phải tuyển 8 lớp/ 414 học sinh mà chưa có cơ sở vật chất gì. Trong 5 năm học, trường phải học nhờ trường THCS Tân Lang kết hợp với hệ thống nhà tạm, bàn ghế trang thiết bị dạy học và làm việc không có. Nên từ năm học 2007-2018, trường phải học 2 ca, sân chơi bãi tập tạm bợ, thời tiết khắc nghiệt, nhất là mùa Thu Đông, khi thì mưa phùn gió bấc, lúc rét đậm rét hại kéo dài; mùa hè thì nắng hanh bụi bậm, thiếu nước sạch; trời mưa thì lầy lội, nhếch nhác, nhất là con đường vào trường. Đến 20/3/2008, nhà thầu bắt đầu san ủi mặt bằng, bắt đầu xây 2 nhà cao tầng trong 2 năm; công trường đang thi công nên cảnh lầy lội có khi kéo dài hàng tháng.

2. Đội ngũ cán bộ giáo viên mấy năm đầu thiếu nghiêm trọng, hầu hết mới vào nghề, nên 3 đồng chí trong Ban Giám hiệu cũng phải dạy thêm nhiều giờ, dạy kê mà không có chế độ gì. Vì lương cũng còn chậm và thiếu. Giải tình thế của Sở Giáo dục là cho phép tăng cường và luôn chuyển từ trường THPT Phù Yên lên ứng cứu các môn Lý, Hóa, Văn. Từ năm học 2009- 2010, đội ngũ giáo viên của trường mới ổn định dần theo hướng sàng lọc lại để đi dần vào chiều sâu.

3. Ngân sách nhà nước cấp những năm đầu thành lập luôn luôn thiếu, bổ sung không kịp thời, không đủ chi, dẫn đến bội chi từ năm trước cứ đẩy về năm sau do đội ngũ giáo viên được tuyển mới ồ ạt theo các đợt. Vì thiếu nguồn ngân sách nên ngoài nguồn chi cho lương và các loại bảo hiểm ra, nguồn ngân sách phục vụ cho chuyên môn còn rất hạn hẹp, thiếu thốn cho đến năm học 2010-2011 trở đi mới ổn định dần.

4.Vào năm học mới 2010-2011, thầy trò vui mừng chuyển dần 2 khối sang khu trường mới nhận bàn giao. Niềm vui nhà mới chưa nguôi, sau một tuần mới vỡ òa thất vọng vì nhà thầu rút nguồn điện đi để tự nhà trường khắc phục không nổi khi cần đến trạm điện hạ thế 3 pha. Vì thế, trường dạy học trong nhà mới trong cảnh không điện, nước; khu nhà bán trú thì bỏ không, khuôn viên thì rộng, cỏ mọc hoang um tùm, chỉ sợ trộm cắp phá hỏng tài sản khu vực nhà bán trú này. Nhà trường đã phải mất gần năm học mới khắc phục xong đường điện hạ thế dẫn từ bản Khẻn vào. Vui có điện lại buồn vì hệ thống nước của 2 nhà cao tầng đã không sử dụng được, nhà bắt đầu dột thấm, xuống cấp nhanh. Nhà trường phải tự khắc phục bằng cách múc nước bể từ tầng 1 lên tầng 2,3.

5. Mười năm thành lập, mà nhà trường vẫn chưa thoát khỏi cảnh nhà tạm, cảnh cán bộ giáo viên và học sinh phải tổ chức thêm những buổi lao động công ích để chuyển nhà, phòng chống bão lốc, làm nhà xe tạm, vệ sinh môi trường, ra quân vì cuộc sống cộng đồng…Do kinh tế nước nhà lạm phát, Chính phủ cắt giảm đầu tư công, nên nhà trường chưa dám mơ có thêm các ngôi nhà mới trong giai đoạn 2 như nhà lớp học, hiệu bộ, nhà đa năng, sân chơi bãi tập đúng quy chuẩn mà chỉ dám mơ có cổng trường, tường rào, sân tập trung. Rồi một trong những ước mong này đã thành hiện thực nhưng khổ nỗi phải nợ doanh nghiệp đã ứng vốn ra xây trước đến nay vẫn còn trên 350 triệu.

6. Mười năm, nhà trường đã chào đón rồi phải chia tay 22 lượt giáo viên, nhân viên đến rồi đi với các lý do khác nhau, lý do nào cũng thuyết phục cả, tạo ra tâm lý không ổn định. Nên có người đã ví “Tân Lang khó khăn ấy là nơi đào tạo tôi luyện cán bộ giáo viên, nơi trải nghiệm công tác, nơi tạo ra giá trị sống đích thực cho con người”. Tuy vậy, việc thiếu nhân viên thiết bị, y tế cũng kéo dài cho đến năm 2015.

7. Mười năm với 8 thế hệ học sinh ra trường; tuyển đầu vào thấp, quá trình học tập khó khăn, một số thiếu cố gắng nỗ lực, nhiều em ở trọ lêu lổng chơi bời, an ninh trật tự phức tạp. Gia đình các em cư trú trên vùng đồi núi có địa lý khí hậu phức tạp, xa trường, kinh tế khó khăn, thiếu phối hợp với nhà trường trong quản lý giáo dục con em. Cho nên, năm nào trường cũng có một số học sinh lần lượt “ra trường non”. Bởi thế, công tác duy trì sĩ số của nhà trường không đạt chỉ tiêu, từ năm học 2015-2016 trở lại đã tốt hơn.

8. Mười năm, các phòng ban làm việc của trường từ chỗ ở nhờ trọ trong dân, đến ở trong khu nhà tạm lợp prô xi măng, đến ở chung khu nhà bán trú với học sinh. Tuy vậy nhà trường vẫn phải phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong những năm đầu ở tạm, học 2 ca, nhiều giáo viên trẻ phải ở tập thể, nên các hoạt động sinh hoạt chuyên môn, họp hành phải tổ chức vào buổi tối, ngoài giờ hành chính mà tập thể sư phạm nhà trường ai cũng vui vẻ, sống tình cảm, đoàn kết và tương trợ lẫn nhau trong công việc cũng như trong đời sống sinh hoạt. Phong trào văn thể mĩ của trường được đội ngũ giáo viên trẻ trung nhiệt huyết luyện tập thi đấu rất nhiệt tình, vui vẻ.

9. Khuôn viên nhà trường rộng lớn, xây dựng chưa ổn định, hàng rào bảo vệ chỉ là phên dậu tạm thời, rất khó trồng cây xanh, cây cối bóng mát chưa nhiều, nhất là khu vực sân trường nên đã bị lãnh đạo huyện nhắc nhở.

10. Hệ thống nước sạch không có, trường phải mua nước sạch của dân, rồi dùng nước giếng khoan, với nước mưa. Có những lúc gặp sự cố hỏng máy bơm, trời hạn nên thiếu nước nghiêm trọng kéo dài, rất khó khăn cho cuộc sống sinh hoạt. Hệ thống nước 2 nhà cao tầng đã không sử dụng được từ sau một năm bàn giao (năm 2011), nên khu nhà bán trú đã được nhà trường khác phục bằng hệ thông ống dẫn bên ngoài chằng chịt để dẫn vào dụng cụ chứa nước. Khó khăn dần sẽ qua đi. Vào tháng 7,8 năm 2016 này, nhà bán trú đã được sửa chữa nâng cấp để cho một số phòng ban Ban Giám hiệu, giáo viên và 167 học sinh ở bán trú (đông nhất từ trước tới nay) được yên tâm công tác, học tập.

Những dấu ấn khó khăn trên, trường đã dần thích ứng, nỗ lực vượt qua để tạo nên những thành công rất đáng khích lệ, tự hào và phát huy. Những thành công mà nhà trường đã tạo lập có thể rất nhỏ với các trường vùng thuận lợi nhưng đặt trong hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn, xa trung tâm mới thấy lớn, “đáng tự hào lắm thay”.

 

 

 

 

MƯỜI NĂM - MƯỜI DẤU ÂN THÀNH CÔNG

 

Vào năm 2016, trường THPT Tân Lang chuẩn bị kỷ niệm 10 năm thành lập vào tháng 11/2016, bên cạnh 10 dấu ấn khó khăn thử thách khó quên, trường đã dần vượt qua để có những dấu ấn thành công rất đáng tự hào. Là người trong cuộc, đi đầu “khai thiên lập địa”, “mở cõi” gây dựng ngôi trường, tôi xin thay mặt Ban giám hiệu điểm lại 10 dấu ấn nổi bật như sau:

1.Từ mượn cơ sở vật chất trường THCS với vài nhà tạm để dạy học; Năm 2008 trường huy động vốn làm đường bê tông vào THCS, đến nay trường đã có cơ sở vật chất tương đối khang trang: năm 2010 có giấy cấp quyền sử dụng đất, bắt đầu sử dụng 2 nhà xây 3 tầng; giữa năm 2011 cơ bản chuyển sang cơ sở mới, bắt đầu có điện có nước; năm 2012 có tường rào, sân gạch tập trung; năm 2013 có cổng trường, nhà bảo vệ y tế; năm 2013 nâng cấp được nhà tạm, có công trình vệ sinh, phòng hội đồng tạm được củng cố; năm 2014 có hệ thống nhà xe mái tôn, sân bán trú, bếp ăn; năm 2015 thay mái nhà tạm, đầu tư xây dựng nhà 2 tầng; năm 2016 đang nâng cấp thành đường bê tông và bồn hoa ngoài cổng trường, sửa chữa nhà bán trú để đón 167 em/24 phòng bán trú, 12 phòng ban; có vốn sửa nhà 3 tầng, 12 phòng học và các công trình phụ trợ;

2. Từ một Chi bộ trực thuộc Huyện ủy chỉ có 3 đảng viên chuyển từ THPT Phù Yên lên mở trường mới đến nay, chi bộ đã kết nạp được 26 đảng viên, vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra 30 %. Mặc dù khó khăn, chi bộ luôn trong sạch vững mạnh, năm 2010 được Tỉnh ủy công nhận là đơn vị trong sạch vững mạnh tiêu biểu 5 năm liền.

3. Bam giám hiệu nhà trường mỗi người một cá tính, một sở thích nghệ thuật song đoàn kết nhất trí, yêu ngành yêu nghề, tâm huyết với giáo viên và học sinh, nhiệt tình trong công tác; đã quy tụ cảm hóa được quần chúng mới vào nghề; lãnh chỉ đạo hệ thống chính trị trường thành công. Tuy còn nhiều khó khăn nhưng nhà trường đã gặt hái được nhiều kết quả rất đáng khích lệ.

4.Đội ngũ cán bộ giáo viên ngày một trưởng thành, từng có 10 lượt giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, 10 lượt giáo viên dạy giỏi cấp trường, có 100% giáo viên đạt chuẩn hoặc trên chuẩn, trong đó từng 03 giáo viên trình độ Thạc sĩ, 01 Tiến sĩ.

5.Tổ chuyên môn, Công đoàn, Đoàn thanh niên là những tổ chức khá vững mạnh, tổ Toán-Tin, Tổ Văn nhiều năm học là tổ lao động tiên tiến và xuất sắc được UBND tỉnh công nhận và tặng Bằng khen, là nòng cốt cho hoạt động các hoạt chuyên môn trong giáo dục của nhà trường.

6. Giáo dục đại trà học sinh của trường trong những năm qua đạt hoặc vượt các chỉ tiêu đề ra, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp cao (vào tốp khá trong tỉnh). Nhiều học sinh tốt nghiệp ra trường đã đang học tập công tác, lao động trên nhiều lĩnh vực, trên khắp mọi miền của Tổ quốc.

7.Từ năm học 2009 đến nay, mặc dù còn khó khăn nhưng công tác đào tạo mũi nhọn của trường vẫn có kết quả đáng tự hào, gần như năm học nào nhà trường cũng có học sinh giỏi cấp tỉnh đạt giải, riêng năm học 2015-2016, đạt 14/18 học sinh dự thi đạt giải cấp tỉnh về văn hóa, nghiên cứu KHKT học sinh; phong trào giáo dục toàn diện, giáo dục bề nổi được nhà trường quan tâm, có đội dự thi cấp tỉnh, cấp huyện đạt giải.

8.Trường đã tham mưu với Đảng ủy, Ủy ban Nhân dân xã Tân Lang cấp lại diện tích đất dôi dư vốn là khu nhà tạm cũ của trường cho một số hộ gia đình giáo viên, nhân viên, tạo điều kiện để cán bộ giáo viên yên tâm công tác lâu dài. “Đất lành chim đậu”, Tân Lang là nơi công hiến của tuổi trẻ, cũng là nơi tuổi trẻ tìm được mái ấm riêng, nhiều đôi bạn trẻ giáo viên, nhân viên đã thành đôi vợ chồng hạnh phúc; nhiều cô giáo trở thành “vợ đảm dâu hiền” của các chàng trai địa phương, cùng ngành, gần trường; nhà trường đã địa phương hóa được nguồn nhân lực để họ yên tâm công tác lâu dài.

9. Nhà trường chuẩn bị có khuôn viên rộng, có vườn thực nghiệm, vườn trường, xưởng mộc, có sân chơi bãi tập thể dục thể thao được quy hoạch mở rộng và phát triển dần từng bước, năm sau tốt hơn năm trước.

10. Trường THPT Tân Lang, nơi ươm mầm tài năng không chỉ với các thế hệ học trò mà còn với các nhà giáo, công chức viên chức. Một số nhà giáo đã trưởng thành vượt bậc từ mái ấm Tân Lang, được đề bạt hoặc thuyên chuyển công tác để giữ ở các chức vụ lãnh đạo cao hơn, hoặc trở thành nhà giáo có trình độ đang thời kỳ xung mãn như các nhà giáo Nguyễn Hồng Hà, Hà Ngọc Tư, Nguyễn Thị Lệ, Kha Thị Thùy Vinh, Nguyễn Hoàng Bình. Nhiều nhà giáo cũng đã đang khẳng định trình độ khoa học, khả năng công tác của mình trong trường và ngoài xã hội, như: Nhà giáo, Nhà quản lí, Nhà nghiên cứu Văn hóa Lò Xuân Dừa; Thạc sĩ Nhà giáo Phan Văn Trụ…/.

Tổng kết 10 dấu ấn thành công hay thất bại trong 10 năm học là cần thiết để “biết mình biết người”, để tiếp tục khắc phục và phát huy.

Ngày 25/8/2016

TG. Lò Xuân Dừa – Bí thư, hiệu trưởng nhà trường

PHẦN THỨ HAI

 

NHỮNG TRANG VĂN, THƠ CỦA CÁC THẾ HỆ THẦY VÀ TRÒ

 

Thư ngỏ !

Mười năm một chặng đường, tuy chưa phải đã quá dài, quá xa, nhưng cũng đủ để ghi dấu và khẳng định cả một quá trình hình thành, xây dựng, phát triển và trưởng thành vốn khó khăn, vất vả mà đầy vinh quang, tự hào của ngôi trường THPT Tân Lang. Nhân dịp kỷ niệm ngôi trường tròn 10 tuổi, thầy và trò trường THPT Tân Lang cho ra mắt cuốn sách “Trường THPT Tân Lang, 10 năm một chặng đường” đầu tiên để ghi lại những bước đường hình thành, xây dựng, phát triển và trưởng thành của nhà trường trên mọi mặt, đồng thời hội tụ tất cả những cảm xúc, tình cảm thân thương của thầy và trò, nhân dân và chính quyền địa phương trong suốt 10 năm với bao thế hệ gắn bó và cống hiến, vun đắp xây dựng nhà trường. Ban biên tập cuốn sách xin gửi lời tri ân, lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến toàn thể quý Thầy cô giáo, quý bậc phụ huynh và các em học sinh thân yêu đã dành những tình cảm cao quý cho nhà trường và tham gia viết bài, sưu tập hình ảnh, tư liệu …để hoàn thiện cuốn sách kỷ niệm. Mặc dù đã nỗ lực và dày công biên tập, song vẫn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Mặt khác, vì khuôn khổ cuốn sách có hạn nên không sử dụng được tất cả bài viết đã gửi về. Xin ghi giữ và để dành cho Tập san kỷ niệm 20 năm thành lập và sau nữa…

Kính mong nhận được sự cảm thông sâu sắc cùng những đóng góp chân thành, quý báu của quý vị. Xin hẹn gặp nhau trong vòng tay tình thân, mến thương của ngày hội lớn – ngày hội 10 năm hình thành và phát triển của trường THPT Tân Lang!

Ban biên tập
Tân Lang, Tháng 10 / 2016

 

 

 

 

CẢM NGHĨ VỀ NGÔI TRƯỜNG TÔI YÊU- THPT TÂN LANG

 

 

Thời gian thấm thoát trôi đi, tôi đã từng giảng dạy, công tác ở nơi đây gần mười năm, một ngôi trường đã gắn bó với sự trưởng thành của tôi khi lần đầu tiên nhận nhiệm vụ mới. Ngôi trường THPT Tân Lang là nơi có lẽ mãi mãi tôi không thể nào quên được.

Ngọt ngào nhớ lúc đắng cay, kỷ niệm 10 năm thành lập trường, cũng là dịp chúng ta nhìn lại chặng đường đã qua, để thấy được những gian khó và cả những nỗ lực vươn lên của thầy và trò nhà trường, để chúng ta có quyền tự hào về mười năm ấy. Tôi còn nhớ như in những ngày đầu thành lập trường với biết bao khó khăn, thử thách. Khi đó cả trường chỉ 5 giáo viên và 3 thầy trong ban giám hiệu. Nhìn mảnh đất hoang vu cùng những bãi ngô…những người thầy như chúng tôi không khỏi băn khoăn. Nhưng rồi niềm vui có ngôi trường mới được thành lập hiện lên trong từng gương mặt hân hoan của những cô cậu học trò, của các bậc cha mẹ, của các cấp chính quyền địa phương….chính là động lực để các thầy cô thêm quyết tâm công tác, xây dựng trường. Giờ học đầu tiên được bắt đầu với những lớp học đi mượn tạm của trường THCS Tân Lang, phòng hội đồng thì thuê nhà dân…Nếu như có rất nhiều em học sinh phải vượt cả chặng đường dài hơn 10 km sỏi đá gồ ghề để đến trường, thì cũng có rất nhiều thầy cô phải ở lại, sống trong những phòng ở tập thể hoặc nhà trọ tạm bợ, thiếu thốn đủ thứ,… để bám trường bám lớp. Có những lúc cả 3 thầy trong ban giám hiệu đã phải làm các công việc hành chính thậm chí xuống tận lớp phát sách giáo khoa hay vở cho các em học sinh. Nhìn những cô cậu học trò bé nhỏ, chân trần, nhưng vẫn vui vẻ xuống tận phòng thầy cô lựa chọn mượn và nâng niu từng quyển sách, thầy cô càng thêm củng cố quyết tâm cống hiến cho sự nghiệp trồng người của nhà trường.

Thời gian trôi qua, những khó khăn ban đầu của nhà trường cũng dần được khắc phục. Trường lớp đã được xây dựng khang trang, kiên cố hơn, số lượng giáo viên và học sinh ngày càng tăng lên, cùng với những thành tích dạy và học của thầy và trò càng thêm dày.

Mười năm đã trôi qua, cùng với sự thay đổi của huyện nhà, trường THPT Tân Lang cũng không ngừng đổi thay và phát triển. Nhiều thế hệ học sinh đã ra trường, đem sức lực và trí tuệ đóng góp vào sự phát triển chung của quê hương, đất nước. Nhiều thầy cô giáo công tác tại trường nay đã chuyển sang môi trường mới giống như tôi vẫn luôn nhớ về mái trường Tân Lang những ngày khó khăn, thiếu thốn, nhưng đầm ấm và yêu thương.

Sự trưởng thành và thành công không tự nhiên đến, mà nó được vun trồng, xây đắp bằng tâm huyết và trí tuệ, bằng mồ hôi và nước mắt, bằng ý chí và nghị lực, bằng niềm vui và cả nỗi buồn của cả thầy và trò nhà trường trong suốt 10 năm qua.

Kỷ niệm 10 năm cũng là một khoảnh khắc để chúng ta dừng lại để nhìn rõ mình hơn, để suy ngẫm, và đúc kết nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, coi đó như hành trang quan trọng để tiếp tục xây dựng nhà trường vững chắc trong chặng đường tiếp theo. Nhưng với riêng tôi, bài học về ý chí, về nghị lực, về tinh thần và quyết tâm vượt khó cùng sự đoàn kết đồng lòng của tập thể giáo dục nhà trường chính là bài học có gía trị sâu sắc nhất, bởi Không có con đường nào dẫn tới vinh quang lại trải đầy hoa”.

Câu nói tôi tâm đắc nhất:

‘‘Để làm được những điều to lớn, chúng ta không những phải hành động mà còn phải mơ mộng, không những phải có kế hoạch mà còn phải có niềm tin’’../

Tháng 11 năm 2016 TG. Hà Ngọc Tư

(HT trường THPT Gia Phù - nguyên là P.HT trường THPT Tân Lang)

 

 

 

NHỚ NHỮNG NĂM HỌC

ĐẦU TIÊN CỦA TRƯỜNG

Trưa một ngày tháng 8 năm 2006 anh Hà Ngọc Tư xuống nhà tôi bảo: "Chiều nay anh em mình lên xã Tân Lang cùng đoàn công tác của UBND huyện để nhận địa điểm xây dựng trường THPT Tân Lang, anh Dừa đang đi công tác, chỉ anh với em đi thôi". Hôm đó trời mưa lất phất, đến Tân lang, tôi và anh Tư cùng đoàn công tác vào trường THCS Tân Lang, anh Bắc phòng Hạ tầng huyện chỉ ra phía ngoài bờ rào của trường, nơi những bụi cây lúp xúp xen những thửa ruộng nói: “Chỗ này sẽ là trường THPT Tân Lang”. Trời mưa mỗi lúc một nặng hạt, đất lầy lội, cảm xúc lúc đó nói thật là buồn.

Hôm sau anh Lò Xuân Dừa gọi mình và anh Tư nói rằng: “Ba anh em lên Tân Lang chuẩn bị cho năm học mới thôi, có quyết định rồi”. Chúng tôi lên Tân Lang trời vẫn mưa, đường sá lầy lội, chỗ trường sẽ xây dựng chỉ là những bụi cây chó đẻ, vài thửa ruộng bậc thang, một gian nhà cũng chưa có, bắt đầu từ cái gì đây? Buổi trưa hôm đó 3 anh em ghé vào nhà bác Đặng Văn Năm ăn cơm, biết 3 anh em lên lập trường mới mà chưa có chỗ ở, bác Năm bảo cho ở nhờ ngôi nhà gỗ cũ của bác, anh Dừa nói: "Từ mai mọi công việc của trường sẽ bắt đầu từ ngôi nhà này".

Xã Tân Lang khi ấy chưa có trạm phát sóng điện thoại di động, điện thoại cố định ở điểm bưu điện xã cũng không sử dụng được, mỗi khi cần liên lạc lại phải ra xã Mường Cơi. Liên lạc khó khăn mà công việc đối với một trường mới ra đời lại quá nhiều, nào là thông báo tuyển sinh, nhận hồ sơ, mượn phòng học, nhận SGK và các trang thiết bị chủ yếu, phân lớp, lập thời khóa biểu, v.v .... Nhưng khó nhất vẫn là chưa có đủ giáo viên, nhân viên. Vì thế, cả Ban giám hiệu có 3 người vừa quản lý, vừa là giáo viên chủ nhiệm các lớp, làm các công tác văn thư, văn phòng ... để chuẩn bị khai giảng năm học mới. Chúng tôi đã báo cáo tình hình khó khăn và xin ý kiến của Sở Giáo dục để gọi một số sinh viên sư phạm vừa ra trường có nguyện vọng về công tác ở trường đi làm, trước khi có quyết định tuyển dụng. Thế là các thầy cô: Nguyễn Thị lệ, Nguyễn Thị Thanh Ngân, Lò Thị Đào, Nguyễn Thị phương Thảo, Thân Thị Huệ, Lường Văn Thành, Nguyễn Thanh Thùy lên Tân Lang nhận nhiệm vụ trong hoàn cảnh khá đặc biệt như vậy.

Trường mới thành lập mà chưa có hình hài gì của một ngôi trường, phòng học thì chung với trường THCS Tân Lang, phòng làm việc cũng là nơi ăn nghỉ của Ban giám hiệu là ngôi nhà gỗ của bác Đặng Văn Năm cho mượn cách trường 2 km; các cô giáo ở trọ nhà dân gần trường; phòng làm việc chung của trường cũng là nơi ở của một số giao viên nam thì thuê 3 gian nhà gỗ của gia đình anh Chạnh - Hạnh, mấy tháng sau thì chuyển ra ngôi nhà gỗ của cô Hòa sát cổng trường THCS, đóng tạm mấy cái bảng gỗ để tiện thông báo việc.

Thế rồi ngày lễ khai giảng năm học đầu tiên của trường cũng diễn ra suôn sẻ. Đến dự khai giảng, trao quyết định thành lập trường có đồng chí Lò Thanh Hay - UV Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Công an tỉnh Sơn La làm trưởng đoàn, cùng đi còn có đồng chí Phan Ngọc Sơn - Trưởng phòng Tổ chúc cán bộ Sở GD & ĐT Sơn La. Về phía huyện Phù Yên có đồng chí Đinh Văn Trưởng - Bí thư Huyện ủy; đồng chí Hoàng Thị Lan - Trưởng phòng Giáo dục huyện.

Ngay sau ngày khai giảng, toàn trường hối hả với những công việc của năm học, sáng học, chiều lao động san đất làm nền để dựng nhà tạm, làm sân tập TD, làm hàng rào ... Đến cuối tháng 10, đầu tháng 11 năm 2006 và đầu năm 2007, nhà trường có thêm một số giáo viên, nhân viên mới: thầy Nguyễn Đức Trọng - GV môn Công nghệ, cô Nguyễn Thị Phương Thanh - GV Văn, cô Trần Thị Bản - GV Văn, thầy Hà Văn Hữu - GV Toán, cô Kha Thị Thùy Vinh - GV Văn, thầy Nguyễn Tiến Vượng - GV Sinh, thầy Lò Việt Dũng - GV Sử, cô Nguyễn Thị Phương Thùy - GV tiếng Anh, thầy Phạm Thanh Hải - GV Tin, chị Hoàng Hải Giang - NV thư viện, Lò Thị Thảo - Kế toán, Cầm Thị Trang - NV văn thư, Lò Văn Thi - bảo vệ, và hai thầy Nguyễn Xuân Hiền - GV Hóa cùng thầy Nguyễn Thanh Hà - GV Vật lý được điều động từ trường THPT Phù Yên lên.

Nhớ mấy tháng đầu chưa có lương, công việc thì bề bộn, cuộc sống sinh hoạt gặp nhiều khó khăn, các cô, các thầy giáo trẻ vừa mới rời giảng đường đại học trong hoàn cảnh này chắc nhiều lúc nao lòng, nhưng trong hoàn cảnh đó lại sáng lên tình đoàn kết, ý thức trách nhiệm của cả thầy và trò, mọi người gắn bó với nhau như trong một gia đình, các hoạt động dạy và học đều được thực hiện đúng yêu cầu về nội dung chương trình; rồi còn thi văn nghệ, thi thể thao, ngoại khóa, các hoạt động giao lưu học hỏi, các hoạt động xã hội từ thiện.

Không thể quên những buổi lao động giúp dân: sửa đường vào Bản Cà, đường vào Bản Mỏ; dọn vườn, phát nương giúp những hộ gia đình chính sách, cái mệt nhọc như tan biến ngay khi nhận được những lời nói, những ánh mắt trìu mến của người dân dành cho thầy và trò nhà trường.

Nhớ xiết bao những buổi diễn văn nghệ, sân khấu là nền đất đắp lên trải bạt nilon, thiếu đạo cụ và trang phục biểu diễn mà điệu múa lời hát vẫn thật trong trẻo, hồn nhiên, tươi sáng.

Nhớ những trận bóng chuyền chơi trên nền đất nhão như bùn mà anh em vẫn nói đùa là sân đất nện, nhưng ai chơi bóng cũng hăng say, hào hứng.

Nhớ làm sao những mùa đông giá lạnh mưa phùn, đường đất đỏ trơn trượt, có những em học sinh đến trường quần áo bị thấm ướt, ngồi trong lớp run run vì lạnh nhưng ánh mắt rạng ngời mơ ước tương lai, như tiếp thêm sức mạnh cho thầy cô trong mỗi giờ dạy.

Nhớ những ngày 20/11, ít hoa thôi nhưng tình cảm của các cô cậu học trò rất mộc mạc, chân thành.

Nhớ buổi lễ tri ân đầu tiên của trường, sân khấu vẫn là nền đất đắp trải bạt nilon, em Bùi Thị Nụ thay mặt các bạn học sinh nói lời tri ân nghẹn trong tiếng nấc, giáo viên ai cũng thấy khóe mắt mình cay cay. Buổi lễ tri ân năm học nào cũng thật xúc động, nhưng mình vẫn nhớ nhất buổi lễ tri ân đầu tiên ấy.

  1. nhiều, rất nhiều những kỷ niệm không thể quên trong những năm học đầu tiên của trường. Cảm ơn những ngày tháng khó khăn đã giúp ta vững vàng hơn. Tiến tới ngày kỷ niệm 10 năm thành lập trường, tôi viết mấy dòng tâm sự với đồng nghiệp và các thế hệ học sinh của trường./.

Tháng 10/2016 TG. Đinh Văn Ban - P.HT

 

 

 

 

ĐƯỜNG ĐẾN TRƯỜNG – ĐƯỜNG TỚI TƯƠNG LAI

“Một chiều đi trên con đường này, hoa điệp vàng trải dưới chân tôi…” Những giai điệu của bài hát “Con đường đến trường” chắc hẳn đã trở nên quen thuộc với nhiều người. Khi nói về “Con đường đến trường” của tuổi học trò, thường chúng ta sẽ nghĩ ngay đến những con đường bướm hoa của một thời mộng đẹp, đến những tà áo dài tung bay theo vòng quay của chiếc xe đạp hay mối tình đầu e ấp trên những nụ cười xinh… Nhưng không, “con đường đến trường” đầu tiên của tôi không phải là những bước chân tung tăng hồn nhiên trên con đường đầy nắng và gió, đầy thơ và nhạc mà là bước chân rụt rè đầy những âu lo của một chàng trai trẻ lần đầu tiên về bục giảng. Đã gần chục năm qua rồi và dù thời gian cứ mãi chảy trôi theo vòng tuần hoàn vô tình kéo theo vạn sự đổi thay tôi vẫn luôn muốn nhớ về những kỉ niệm của “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, Nghìn năm chưa dễ mấy ai quên”.

Tôi rời trường Đại học vào một ngày tháng sáu, ngày của những tia nắng chang chang oi bức và của cả những cơn mưa rào bất chợt. Hai mươi tư tuổi - lòng tôi cũng đầy rẫy những bất chợt nắng mưa - tôi sửa soạn đặt chân bước vào đời với tấm bằng đại học cùng những ước mơ và lý tưởng. Bước chân trên con đường quen thuộc đã bốn năm xa cách, hít thở không khí miền quê thơm mùi khói bếp chen lẫn mùi nương rẫy, tôi mơ màng theo đuổi những ước mơ. Ước mơ! Tôi chợt giật mình khi nghĩ đến ước mơ ấp ôm từ nhỏ và giờ nó đã căng đầy: Ước mơ làm thầy giáo. Ngước nhìn bầu trời quê dịu mát trong màu khói lam chiều, nhìn con đường quanh co tít tắp, nhìn những ngọn đồi hàng cây bao bọc lấy những mái nhà thưa thớt…, lòng tôi đầy bất trắc, tôi phải bắt đầu thực hiện ước mơ của mình như thế nào đây khi tôi chẳng có gì ngoài tấm bằng đại học và những kiến thức học được trong 4 năm qua? Tôi ôm giữ ước mơ cho riêng mình và tự nghĩ rằng tôi sẽ bước chân vào đời bằng tất cả những gì tôi đang có, cả niềm hy vọng lớn lao mà bố mẹ, các anh trai gửi gắm vào tôi.

Vậy mà thời gian cứ trôi đi lặng lẽ, tôi cứ hy vọng rồi thất vọng. Những cơ hội đến rồi lặng lẽ bỏ tôi ra đi. Ba tháng quanh quẩn với những công việc lặp lại lòng tôi tràn ngập nỗi chán chường. Miền quê thân thuộc mà tôi sinh ra giờ cũng không còn đẹp trong mắt tôi nữa mà buồn đến lạ. Người ta an ủi tôi rằng coi như đây là thời gian xả hơi sau bốn năm đèn sách, rằng đây là thử thách lòng kiên nhẫn của con người, rằng đây là tất yếu ai cũng phải như vậy để thấy quý trọng thời gian hơn… Lúc đầu tôi còn cười nhưng sau thì tôi thật sự cũng không nhớ mình đã phản ứng lại những câu an ủi đó như thế nào. Bây giờ nghĩ lại tôi lại thấy thật đúng như người ta nói và nếu có ai như tôi lúc đó tôi cũng sẵn sàng lặp lại những lời an ủi đó cho họ vì thực sự tôi đã vượt qua thử thách một phần nhờ nó. Rồi một niềm vui lớn đã đến vỡ òa trong tôi khi tôi nhận được cuộc điện thoại của thầy Hiệu trưởng trường cấp III - ngôi trường mà tôi đang dạy hôm nay. Tôi sung sướng trong niềm hy vọng tràn ngập khi thầy bảo tôi trường thầy đang thiếu giáo viên Hóa và nếu tôi chưa có công việc thì có thể đến để thầy gặp. Trên đường đến gặp Thầy, tôi miên man suy nghĩ, hồi hộp và lo lắng. Tôi tự trấn an mình bằng việc vẽ ra viễn cảnh tươi sáng ở tương lai khi tôi được hằng ngày bước lên bục giảng, được gọi bằng thầy và được có học trò. Đứng im nhìn trường học lúc đó còn là khu nhà tạm với những hàng cây cùng những tiếng ồn ào của học sinh, tôi lặng đi theo mơ tưởng, lòng tôi rối bời với những ý nghĩ trái ngược nhau. Tôi bước vào phòng hội đồng của trường đúng lúc giờ ra chơi, có rất nhiều thầy cô giáo đến hỏi thăm, tôi không giấu được sự ngại ngùng dù vẫn hy vọng rằng mai đây tôi sẽ là đồng nghiệp của họ và căn phòng này sẽ là nơi hằng ngày tôi đến. Tiếng trống vào lớp vang lên, tiếng ồn ào cũng lắng xuống, các thầy cô giáo lại cùng nhau lên lớp để lại tôi một mình trong căn phòng rộng, tôi nhìn ngắm xung quanh trong yên lặng, yên lặng đến nỗi nghe cả tiếng tim tôi đang đập thình thịch. Thầy Hiệu trưởng vào và phá tan bầu không khí yên lặng, thầy nhìn tôi mỉm cười và nói: em về chuẩn bị để tuần sau chính thức đến lớp. Tôi vui mừng không nói nên lời, cảm giác vui sướng ấy giống như cảm xúc khi tôi nhận tin đỗ đại học. Tôi chào thầy ra về trong niềm hân hoan lan tỏa khắp người, trước khi ra khỏi cổng trường tôi không quên ngoái đầu nhìn lại để thâu tóm tất cả cảnh vật xung quanh và cảm xúc trong lòng để cất giữ cho riêng mình thành một kỉ niệm không thể nào quên - kỉ niệm về con đuờng đến trường của tôi.

Là một người đứng trên bục giảng, làm bạn cùng bảng đen phấn trắng, vui buồn cùng học trò, dù tuổi nghề dài hay ngắn có lẽ mỗi người đều có nhiều kỉ niệm khó quên. Riêng tôi, chỉ mới hơn tám năm vào nghề, kỉ niệm thật nhiều, buồn vui lẫn lộn nhưng với tôi đó là cả một gia tài, nó giúp tôi tự tin, vững vàng hơn trên chặng đường hãy còn dài phía trước. Mới ngày nào chập chững bước đi trên bục giảng, viên phấn không chịu nằm yên trong tay mà cứ run run, ánh mắt học trò thì có bao điều phải hiểu, hoặc đầy thách thức hoặc trìu mến thương yêu... Những khó khăn buổi đầu cũng trôi qua cùng thời gian bởi những lí tưởng, ước mơ của chính mình và cùng với sự giúp đỡ của đồng nghiệp. Cho đến hôm nay, dù chưa nhiều nhưng tôi cũng đã có chút ít kinh nghiệm để tự tin hơn khi đứng trước học trò và để thêm yêu quí công việc của mình. Vẫn biết rằng những điều tốt đẹp luôn song hành cùng những gian khổ, đằng sau những ngả rẽ quanh co sẽ là đoạn đường bằng phẳng. Nhưng, đứng giữa những giá trị của trưyền thống, thành quả của hiện tại và mục tiêu cho tương lai, tôi thấy trách nhiệm của mình lớn lao hơn. Và đó sẽ là nguồn động lực để tôi vững vàng hơn trong vị trí "người cầm lái" tiếp bước cha anh chở những thế hệ học trò đến với chân trời tri thức.

Tôi đã thực hiện được ước mơ của mình ở ngôi trường này, được sống với ước mơ, yêu và kết hôn với em, cũng là cô giáo trong trường, có một gia đình hạnh phúc, đồng nghiệp và học trò tin yêu. Những gì tôi có hôm nay phần lớn được bắt đầu từ đây. Dù con đường phía trước hãy còn dài và nhiều ngả rẽ, dẫu cuộc sống còn có nhiều hướng đi bắt tôi phải lựa chọn nhưng những gì góp nhặt được từ nơi đây tôi sẽ ghi nhớ mãi như những món quà vô giá mà cuộc sống đã ban tặng đặc biệt là con đường đến trường của buổi đầu tiên ấy, phải chăng đó cũng là con đường đi tới tương lai ?

Tg. Phan Văn Trụ

(Tổ trưởng tổ Hóa - Sinh - Thể dục, GV. Hóa)

 

 

 

LẦN ĐẦU LÀM CHỦ NHIỆM

Năm ấy, tôi còn rất trẻ, vừa mới rời giảng đường đại học, hành trang vào nghề chỉ là một tấm lòng yêu nghề, một tâm hồn trong trắng, một cặp mắt luôn nhìn đời qua lăng kính màu hồng và sự non nớt trong kinh nghiệm cuộc sống. Ngày ấy trường THPT Tân Lang vừa mới thành lập, cả trường mới chỉ có 8 lớp 10, trong hai tháng đầu cả trường mới chỉ có 8 thầy cô giáo bao gồm cả cán bộ quản lí và giáo viên giảng dạy, nên cả trường tôi ai cũng phải chủ nhiệm, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 10G. Lần đầu tiên được phân công làm công tác chủ nhiệm, niềm vui xen lẫn với bao lo lắng trong tôi. Các em học sinh lớp tôi đều đến từ những bản làng xa xôi của sáu xã vùng Mường – nơi mà cuộc sống còn rất nhiều khó khăn, còn nghèo và lam lũ. Mang theo nhiệt huyết và tình thương của một người chị với những đứa em (tôi không coi chúng là những đứa con vì tôi chưa lập gia đình, với lại nhiều em học sinh chỉ ít hơn tôi có 4 tuổi). Những hi vọng và tin yêu cùng với nhiệt huyết của tuổi trẻ, tôi đã gửi gắm tới lớp chủ nhiệm đầu tiên của mình. Những tin rằng với những tâm hồn ngây thơ, hồn nhiên, trong trẻo kia của các em, cái sự nhiệt tâm của mình sẽ có sức lay gọi, thu hút mãnh liệt. Tôi yêu sự chân chất, mộc mạc mà ít sự hồn nhiên, trong trẻo trong cuộc sống còn nhọc nhằn, lam lũ của các em.

Sau khi kết thúc đợt học quân sự đầu năm, cả trường bắt đầu vào tuần học các môn văn hóa, mặc dù vẫn đang thiếu giáo viên ở nhiều môn. Tuần học đầu tiên trôi qua, nhìn vào cuốn sổ đầu bài, những tiết học điểm kém và tên học sinh vi phạm bắt đầu xuất hiện. Trong số đó, bốn lần tên em là học sinh là Sơn - đứa học trò với vẻ ngoài “phớt đời” tôi đặc biệt ấn tượng ngay từ những ngày đầu tiên bước chân vào lớp, khi em phát sóng ngắn bằng tiếng Mường (Cô giáo gì mà vừa bé, vừa lùn, chỉ cao tới nách mình là cùng). Làm thế nào bây giờ? Chẳng lẽ mình chịu thua? Không thể thế được! Giờ sinh hoạt lớp tuần ấy, sau khi nhận xét chung và phổ biến kế hoạch tuần tiếp theo, tôi tuyên bố:

- “Cả lớp nghe đây! Chiều ngày thứ hai, cô mời phụ huynh của bạn Sơn đến trường gặp cô. Phải mời bằng được bố hoặc mẹ tới đây. Nếu bạn Sơn không mời được bố mẹ đến thì từ mai không phải đến lớp nữa! Sơn nghe rõ chưa”.

Một không khí nặng nề bao trùm lớp học, những cặp mắt len lén nhìn nhau. Tôi thầm hài lòng với những lời “răn đe phủ đầu” của mình và thêm vững tin để vạch ra kế hoạch tiếp theo.

Chiều thứ hai tuần sau, bố mẹ Sơn không đến. Tôi tìm cách ứng phó với cậu học trò gan lỳ của lớp. Sáng thứ ba tôi lên lớp đầu giờ sớm, việc đầu tiên tôi làm khi vừa bước chân vào lớp đó là đảo mắt tìm Sơn. Chỗ ngồi ngay bàn đầu vắng em. Lại tự tiện đổi chỗ nữa rồi đây – tôi hậm hực nghĩ. Nhưng tìm khắp căn phòng cũng chẳng thấy. Tôi buông tiếng hỏi:

- Sơn không đi học hả các em?

- Không cô ạ! – cả lớp lao nhao.

Nghi ngờ và băn khoăn, tôi đến tận phòng trọ của em để tìm, nhưng hỏi chủ nhà trọ cũng không biết khi nào em mới xuống vì em bảo về nhà, nên tôi quyết định chờ đợi (vì nhà em ở tận Han II – Mường Do, không có điện thoại mà cả vùng Mường lúc đó cũng chưa có sóng để liên lạc, trong lớp lại không có bạn nào gần nhà em).

Ngày tiếp theo, vẫn thế. “Có em nào biết vì sao bạn Sơn không đi học không?” - tôi hỏi. Một không khí im lặng lạ lùng bao trùm lớp học... Nhiều cặp mắt kín đáo nhìn về phía cô bé bí thư tên Xoa - nhà em cũng ở Mường Do. Tôi bỗng chột dạ, tới gần em hỏi. Cô bé ngập ngừng thưa: “Thưa cô! Bạn Sơn không ở cùng bố mẹ. Bạn ấy ở cùng bà ngoại ạ”.

Tôi cảm thấy hơi sửng sốt và bối rối trong lòng. Tiếng cô học trò cố tình nói rất khẽ, nhưng tôi nghe rất rõ: “Bố bạn ấy đã mất... khi bạn đang lớp 4 cô ạ! Mẹ bạn ấy lấy chồng khác nên bạn ở với bà ngoại...”.Tôi lặng im và rời khỏi lớp. Đến lấy học bạ THCS và tìm học bạ của Sơn để tìm hiểu thêm. Đây rồi học bạ của em, xem kết quả và lời phê của giáo viên chủ nhiệm: Tôi thấy lạ là suốt từ năm học lớp 6 đến lớp 9 năm nào thầy cô chủ nhiệm của em cũng phê là “ý thức yếu, có vấn đề về tâm lý”. Tôi định bụng nhất định phải tìm được lí do vì sao em lại bị nhận xét như vậy.

Ngày hôm sau, Sơn đã đi học trở lại. Tôi đã chuyển lời qua cô bé bí thư tới em. Ánh mắt có vẻ bất cần hơn. Thậm chí em không phản ứng, hoặc đồng tình trước lời nhắc nhở của tôi. Em vẫn khiến tôi đau đầu vì những trò nghịch ngầm ngổ ngáo của em. Và việc nghỉ học của em thì quá vô tổ chức, đến nỗi các em học sinh trong lớp quá quen thuộc với hành động và nội dung trong giấy xin phép nghỉ học của em: Nếu em viết trong giấy xin phép là “em xin nghỉ một buổi học” thì kiểu gì em cũng nghỉ từ 3 buổi trở lên, còn nếu em viết là “em xin nghỉ 2 đến 3 buổi học” thì y như rằng chỉ sau hai tiết đầu hoặc sau một buổi là em lại đi học. Tôi đã nhắn qua các em học sinh khác lớp ở gần nhà em về gia đình em mấy lần, nhưng vẫn bặt vô âm tín.

Với mong muốn là không để cho một em học sinh nào phải ở lại lớp, tôi tìm đủ mọi cách để các em yếu, còn tự ti phải vươn lên hòa đồng với tập thể lớp.

Học kì I rồi cũng trôi qua nhanh, sau khi xem xét nhiều yếu tố, Sơn bị xếp hạnh kiểm loại trung bình (một mình em ở tốp cuối so với các bạn trong lớp).

Rồi kỳ họp phụ huynh cũng đến, sáng đó trời mưa phùn, rét buốt, tôi đang chuẩn bị đến trường thì thấy Sơn và một chị phụ nữ, nhìn lam lũ, vất vả, dáng người nhỏ gầy, đang đứng thập thò ngoài phòng trọ của tôi, Sơn đứng ở của phòng giới thiệu bằng một câu cụt ngủn : ‘‘mẹ em’’, rồi chạy vù đi.

Cuộc trò chuyện giữa tôi và mẹ em rất ngắn ngủi, qua câu chuyện tôi mới biết Sơn bị áp lực về tâm lí kể từ sau khi bố mất, mẹ đi bước nữa, em lại không thể sống cùng mẹ và dượng, ở với bà ngoại, mẹ em lại mới sinh em bé, nên thời gian quan tâm đến em gần như không, tất cả do bà ngoại và nhà trường nhắc nhở. Cuối cùng, mẹ em xin tôi có gì thì cô giáo cứ bảo ban em giúp vì nhà ở xa. Nhìn mẹ em tôi lại nghĩ đến mẹ tôi và những bà mẹ người dân tộc quanh năm đầu tắt mặt tối mà thấy chạnh lòng.

Từ hôm đó, mỗi tuần hai lần tôi đều ra phòng trọ của em, động viên, chia sẻ với em. Ở lớp tôi phân công hai em học sinh thường xuyên kèm cặp giúp đỡ em. Từ đó, ý thức em dần tiến bộ. Từ đó, em đã nhiều đổi thay. Và cũng từ đó, tất cả cô trò chúng tôi cũng gắn kết với nhau hơn. Tôi khấp khởi mừng thầm. Cuối năm ấy Sơn vẫn đủ điều kiện lên lớp.

Sang năm học tiếp theo, vì sắp nghỉ chế độ thai sản, nên tôi không còn tham gia làm công tác chủ nhiệm nữa. Nhưng cuối năm học ấy, tôi vẫn hỏi về Sơn qua thầy Kiều Minh Nhật (thầy giáo chủ nhiệm mới của các em) thì mới hay Sơn vì nghỉ học nhiều quá 45 buổi, bị hạnh kiểm yếu, kết quả học tập cũng yếu nên em phải ở lại lớp 11. Năm học tiếp theo khi đi làm trở lại, tôi mới hay Sơn đã bỏ học ngay sau mấy hôm đầu xuống học lại lớp 11. Nghe vậy, tôi thấy thương em vì học hành dang dở, vì hoàn cảnh của em, và thấy một chút tiếc nuối trong lòng.

Lại một mùa đông nữa đang về với xứ Mường, với ngôi trường đã hơn mười năm gắn bó, đêm nay, bên trang giáo án, nghĩ về em, tôi chợt nhớ và thấm thía lời tâm sự của một một thầy giáo đã từng có thời gian gắn bó với nhà trường, nay đã chuyển công tác: hãy yêu thương và chia sẻ với mỗi em học sinh khi có cơ hội làm thầy cô chủ nhiệm.

Tg. Nguyễn Thị Lệ - P. Hiệu trưởng

 

 

 

MÁI TRƯỜNG

- NGÔI NHÀ THỨ HAI

 

Với mỗi người, ngôi nhà là tổ ấm yêu thương. Nơi ấy có những người thân yêu vun vén hạnh phúc cho ta, là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho ta trong cuộc sống. Nhưng có một ngôi nhà nữa, ngôi nhà ghi dấu một thời tuổi trẻ tràn đầy nhiệt huyết và ước mơ. Nó chất chứa bao kỷ niệm về tình đồng chí, đồng nghiệp, tình bạn, tình thầy trò. Đó là nơi cho tôi sức mạnh để phấn đấu, vươn lên trong cuộc sống. Đó cũng là nơi chắp cánh cho bao thế hệ học trò bay tới những chân trời mới với bao hy vọng tốt đẹp về tương lai. Ngôi nhà ấy mang tên hạnh phúc – trường THPT Tân Lang.

Thời gian thấm thoắt thoi đưa, nhớ những ngày đầu tiên bước chân lên mảnh đất này để nhận công tác, trong tôi tràn đầy sự tò mò, hồi hộp, lo lắng. Ấn tượng đầu tiên của tôi là ngôi nhà cấp bốn, lập tấm pro được ngăn làm đôi, một nửa là phòng hội đồng, một nửa là phòng GV ở. Không cơ sở vật chất, không phòng học, chỉ có một đồng ruộng mênh mông là khu đất dành cho nhà trường. Nơi đó cũng chưa có sóng điện thoại, không Internet, không có cả sóng vô tuyến. Nhà trường đã phải học nhờ trường THCS – lúc đó cũng là ngôi trường chưa có đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị.

Tuy vất vả, khó khăn, thiếu thốn là vậy nhưng bù lại, tình đồng chí đồng nghiệp luôn gần gũi, gắn bó, thân thiết. Học sinh luôn hiền hòa, ngoan ngoãn. Sau giờ hành chính, chúng tôi, cả nhân viên và lãnh đạo thường tổ chức các buổi đi dã ngoại tại khu vực xã nơi chúng tôi công tác. Những cuộc trải nghiệm cuộc sống của dân, những kỷ niệm bắt cua, ốc, câu cá, được hòa mình với thiên nhiên hiền hòa ở những dòng suối mát róc rách. Chuyến đi không chỉ là buổi kiếm ăn, giải trí mà còn thể hiện tình đoàn kết gắn bó, không khoảng cách lãnh đạo - nhân viên. Đó cũng là niềm an ủi, động viên xua tan đi những lo lắng, thiếu thốn mọi mặt của một ngôi trường mới. Những bữa ăn tập thể, những buổi sinh hoạt văn nghệ, chơi thể thao trên nền đất và bùn, tất cả vẫn còn nguyên những kỷ niệm đẹp.

Là một giáo viên mới ra trường, kinh nghiệm còn yếu, bản thân tôi cũng không tránh được những lo lắng, lúng túng trong công tác, sợ sẽ không hoàn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên, được sự quan tâm, dìu dắt của đồng chí, đồng nghiệp, đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình của các thầy trong Ban giám hiệu như thầy Dừa, thầy Tư, thầy Ban, tôi đã cố gắng vươn lên vượt qua những khó khăn, thử thách ban đầu, được đồng nghiệp tin tưởng, học sinh yêu quý. Học trò nơi đây có đời sống kinh tế nghèo, điều kiện học tập thiếu thốn nhưng với sự tận tâm, nhiệt tình của các thầy cô, các em đã có ý thức cố gắng vươn lên trong học tập và đạt được nhiều thành tích cao trong quá trình học tập.

Thấm thoắt mười năm đã trôi qua, khoảng thời gian mà tập thể hội đồng sư phạm nhà trường cùng các thế hệ học trò đã trải qua bao thăng trầm, đến nay, với sự quan tâm chia sẻ của lãnh đạo cấp trên, với sự nỗ lực của thầy trò nhà trường, tôi nhận thấy nhà trường cũng đã được xây dựng khang trang hơn, phát triển hơn. Nhà trường đã đạt được nhiều thành tích cao trong mọi mặt từ văn hóa, văn nghệ đến thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học. Nhà trường cũng có nhiều giáo viên đạt giáo viên giỏi cấp tỉnh và cấp trường.

Mười năm nữa, lớp lớp thế hệ học sinh sẽ trưởng thành, sẽ thành đạt trong xã hội, chỉ còn lại đây các thầy cô dù tuổi xuân qua đi nhưng tâm hồn vẫn luôn tươi trẻ, tràn đầy nhiệt huyết và tình thương yêu với học trò.

Dù sau này có đi đâu, về đâu thì tôi cũng vẫn sẽ nhớ mãi ngôi trường như là ngôi nhà thứ hai của tôi. Và tôi cũng tin rằng các thầy cô đã từng công tác ở đây vẫn còn lưu mãi những kỷ niệm tươi đẹp tại ngôi trường này./.

 

Tg. Lò Thị Đào - GV Tiếng Anh

 

 

MƯA BỤI

Mưa bụi, thứ mưa nhỏ li ti như hạt bụi, thấm sâu vào đất, len lỏi trong từng thớ, mềm mại, uyển chuyển, bé tí xiu. Thuở nhỏ, tôi rất thích mưa bụi, tôi thường reo lên thích thú khi thấy mưa bụi, có khi lại cười khanh khách chạy ra sân và ngửa mặt để đón thứ hạt li ti lất phất đó.

Ngày ngày tháng tháng cùng những tràng cười giòn tan và những cuộc nô đùa tinh nghịch của trẻ nhỏ, tôi dần trưởng thành. Những năm cuối cấp III, tôi băn khoăn không biết nên chọn thi ngành gì, khối gì vì môn nào tôi học cũng lưng lửng như nhau, chỉ có hai môn là tiếng Anh và sinh học nổi trội hơn một tí . Ngày ấy, đại học sư phạm rất có giá, ai may mắn thi đỗ đều được mọi người trầm trồ, tấm tắc: “đỗ sư phạm rồi đấy”. Tôi thi vào trường Đại học Sư phạm Tây Bắc như một tất yếu vì trường ở gần nhà, thuận lợi cho việc học tập.

Đỗ. Cái tin đến làm tim tôi vỡ òa trong cảm xúc, niềm vui xen lẫn sự bồi hồi. Tôi khấp khởi ôm một chiếc hòm sắt và một chiếc bàn con để trở thành sinh viên đại học. Cuộc đời sinh viên với tôi rất đẹp, là bao tiếng cười, niềm vui, những câu truyện văn học chất sâu nhiều tầng nghĩa. Tôi đọc nhiều, từ những tác giả phương Tây như frant kafka, G.Mpatxang đến các tác giả lớn như Victo Huygo, Banzac… Những câu truyện văn chương thấm dần vào tôi và hiện thực hóa bằng những suy nghĩ hành động. Tôi yêu con người, yêu văn thơ, thích các hoạt động tình nguyện. Người ta thường nói người học văn hay mộng mơ, nhưng thú thực tôi hào hứng lắm với mảng văn xuôi hiện thực. Đọc đi đọc lại đến thuộc làu làu các truyện ngắn của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng. Năm thứ 3 sinh viên, tôi bắt đầu tập giảng. Chao ôi, buổi đầu tiên làm cô giáo thật đáng nhớ, chân tay vụng về, lung túng. Đứng trên bục giảng nhìn xuống tôi thấy rất nhiều đầu đen và các con mắt đang đổ dồn về phía tôi. Khó quá, hóa ra giáo viên không chỉ có kiến thức mà còn phải có cả khả năng sư phạm. Đặc biệt, giáo viên dạy văn lại yêu cầu thêm khả năng cảm thụ văn học, khả năng truyền giảng, giọng nói phải tròn vành rõ tiếng, diễn cảm, chữ viết đẹp… Nhiều yêu cầu quá, Nhưng đã dấn thân thì phải cố, tôi thầm nhủ và quyết tâm rèn luyện. Tôi quen dần với việc giảng dạy và thời gian thực tập sư phạm đã thực sự giúp ích cho tôi.

Ra trường với tấm bằng khá, tôi chờ đợi quyết định đi nhận việc. Lúc ấy tôi không mong muốn gì hơn là một công việc ổn định, được đi làm, được trở thành cán bộ, và làm ở đâu tôi cũng chưa nghĩ ra…. Những hạt mưa bụi thế nào tôi cũng quên béng , chỉ nhớ ngày ấy gió se se lạnh, tôi cùng mẹ trên đi chợ, đúng lúc ấy, tôi nhận được quyết định đi làm tại Trường THPT Tân Lang - Phù Yên.

Mẹ tôi rất ngỡ ngàng vì tôi là con gái út trong nhà được chiều chuộng từ bé, vụng về, chẳng biết gì về nữ công gia chánh. Từ nhỏ chỉ mỗi việc học, nay mới đi chợ theo mẹ để “học việc”. Mẹ lo, xa xôi thế, biết sẽ thế nào? Mà con gái lại xa đâu ấm đấy, có khi… Tôi thì vui như trẻ thơ, sắp xếp những quyển sách tôi dành dụm từ tiền học bổng mua được vào bao. Ngày đi nhận việc tôi mang theo 2 bao tải, một bao đựng sách, một bao đựng giá sách và một số thứ linh tinh như ca, cốc, mắc áo… Phù Yên với tôi rất lạ lẫm, tôi chưa từng qua Phù Yên. Khúc đường quanh co men theo những ngọn núi đồi trùng điệp đưa tôi đến một thị trấn trù phú, bằng phẳng và khá đông đúc. Con suối Tấc hiền hòa ôm trọn thị trấn và cánh đồng màu mỡ thẳng cánh cò bay, phong cảnh rất hữu tình. Nhưng cơ quan tôi cách đó gần 30 km nữa. Đường nhựa êm đẹp, tôi đưa mắt nhìn cảnh vật hai bên đường. Ngô, sắn, rừng xoan, quế là những thứ cây được trồng nhiều ở nơi đây. Các địa danh như đèo Ban, dốc Bùn, Mường Cơi, Bãi Đu dần qua theo những cột mốc. Tròng trành, lành lạnh. Thoáng đâu đây, tôi thấy từng hạt mưa bụi nhỏ tí vương vãi.

Con đường rẽ men theo suối bản Vường mà theo lời giới thiệu của anh lái xe là đoạn đường đã được làm mới, chứ trước kia thì bùn lầy, bẩn ghê lắm.. Đưa tôi đến mái trường Trung học phổ thông Tân Lang.

Trường bao gồm 3 dãy nhà với hơn chục phòng vừa làm phòng học, vừa làm phòng ở, phòng hội đồng và hiệu bộ. Các dãy nhà được lợp pro, ván thưng, còn có cả cót ép, giấy báo dán. Nắng xiên trên sân trường nhuộm bóng một thầy giáo đang dạy thể dục (sau này tôi mới biết tên là thầy giáo Nguyễn Thanh Thùy). Thấy tôi khệ nệ bê đồ, có tiếng xôn xao: Cô giáo mới, hình như có cô giáo mới chúng mày ạ… Trong những ánh mắt tò mò ấy, tôi nhận thấy có nhiều nụ cười thật tươi, tôi cũng mỉm cười chào thầy và các em. Đón tôi là một thầy giáo còn rất trẻ, giọng trầm và rất thân thiện. Thầy giới thiệu tên là Thành, chủ tịch công đoàn nhà trường. Tôi ngại ngùng cất tiếng chào lí nhí, đưa mắt nhìn quanh thấy biển hiệu các phòng chức năng của nhà trường được viết bằng phấn trắng. Sân trường là một khoảng đất được san phẳng, cỏ mọc nham nhở. Một khoảng nhỏ nhẵn thín không thấy cỏ mọc được dùng làm sân đánh bóng chuyền. Thầy giáo Thành đưa tôi vào gặp thầy Hiệu trưởng. Một căn phòng nhỏ, hẹp khoảng 15 mét vuông được ngăn làm ba, trước là bộ bàn ghế để tiếp khách, sau là bàn làm việc với rất nhiều giấy tờ, công văn, sổ sách. Có cả một bộ máy vi tính, sau nữa là giường nghỉ cuối phòng còn để thêm một chiếc xô đỏ đựng nước. Thầy còn khá trẻ, trắng, giọng rất hiền: cơ sở vật chất của trường còn thiếu, phải học nhờ ở bên trường cấp II, chào đón em đến công tác tại trường. Câu nói của thầy khiến tôi cảm thấy ấm lòng ở một nơi rất lạ…

Thu xếp xong nơi ăn chốn ở, tôi dõi mắt ra mênh mông hơn. Những đồi chè bao la bạt ngàn nối tiếp nhau, từng đàn bò nối nhau ra về, nhẫn nại, khắc khổ. Tiếng mõ khua lốc cốc một nỗi niềm hoài cổ từ rất xa, từ muôn đời mà khó có ai có thể lý giải nổi. Trong cái mung lung ấy, mưa bụi bay, lả tả, đều đều, phải chăng vì mưa ẩm nên cây cối ở đây mới xanh tươi như thế.

Đến cùng đợt với tôi còn có cô giáo Bản, thầy Hải, thầy Hữu, cô Phương Thùy. Sau một tuần học việc và dự giờ, chúng tôi bắt đầu soạn bài để lên lớp. Tối tối, mỗi thầy cô có một cái bàn con, bày ra la liệt xung quanh sách vở tài liệu, cảnh tượng không khác thời sinh viên là mấy.

Tôi được phân công dạy văn lớp 11, thay cô Lệ và thầy Ban. Tôi lên lớp với nhiều kiến thức và tâm huyết, 45 phút dường như quá ít với tôi. Bục giảng, phấn trắng gắn cùng sự say sưa trong lời giảng về Bê – li – cốp, về kịch của Nguyễn Huy Tưởng. Sau đó một tuần, tôi chợt nghe thấy học trò bình luận về cách giảng của những giáo viên mới như chúng tôi, tôi cảm thấy lo sợ vì trong những lời bình luận ấy, có khi có cả tên tôi trong đó. Khói chiều Tân Lang lảng bảng lẫn trong làn sương mù nhè nhẹ, thoảng mùi vị quế, thơm thơm nhưng sao khóe mắt tôi lại thấy cay. Làn mưa bụi chợt nhòa đi trên lá ướt. Đêm, tĩnh mịch, không gian đầy rẫy những tiếng ếch nhái gọi bạn, tiếng sẻ sành kêu. Mùa đông ở Tân Lang thật khủng khiếp. Lạnh tê buốt, chúng tôi co ro trong chăn để soạn bài, vách gỗ cong vênh là cơ hội cho gió lạnh ùa vào phòng nhỏ, thách thức tinh thần và làm lay lắt hơn nỗi nhớ nhà của chúng tôi. Tôi đã biết tiết chế hơn trong từng bài giảng. Được sự giúp đỡ của đồng nghiệp như thầy Đinh Văn Ban-Hiệu phó, cô Nguyễn Thị Lệ-Tổ trưởng, tôi thấy vững vàng hơn trong từng bài dạy. Quen lớp, quen trường, chúng tôi sống gần gũi, tình cảm, thân thiết như anh em một nhà. Cứ chiều chiều, sau giờ tan lớp, chúng tôi rủ nhau đi đào rau má, hái mùng tơi ven đường. Hôm nào trời ấm chúng tôi rủ nhau đi bắt cua, câu cá. Cua cá suối Vường lúc đấy nhiều lắm, tối về lại rang nấu và tổ chức ăn cơm chung, mưa lạnh giá rét không ngăn tiếng cười giòn tan và ánh mắt bừng sáng của tuổi hai mươi nhiều mơ ước.

Khoảng thời gian tôi dạy học ở trường Trung học phổ thông Tân Lang là khoảng thời gian giúp tôi rèn luyện và đứng vững trên bục giảng, tự xây dựng cho mình một phong cách cá nhân riêng trong quá trình giảng bài. Tôi tìm được nhiều bài học kinh nghiệm cho nghề và cũng từ đó, các lớp học sinh trưởng thành, các em năng động, sáng tạo và dám thể hiện những suy nghĩ của bản thân. Trong tầng tầng lớp lớp các học sinh ấy, tôi ấn tượng lắm với một số em học trò. Đầu tiên là cậu lớp trưởng mang tên Quỳnh, khóa 2009-2012. Em là một học trò ngoan, một lớp trưởng đầy năng lực và trách nhiệm, khả năng ngôn ngữ và tư duy cực kì nhạy bén, em hòa đồng, thân thiện với các bạn. Sở trường là các môn khối A, em có thể đứng trên bảng giảng bài cho cả lớp như một người thầy, em có suy nghĩ rất tích cực và là người tạo động lực học tập trong lớp, lớp tiến bộ và tôi rất tự hào khi được chủ nhiệm một lớp như thế, có một em lớp trưởng như thế. Cũng trong khóa ấy, có một học sinh sống hơi khép mình, tôi ấn tượng với em bởi nụ cười thật hiền, em ngồi bàn đầu, không bao giờ nói chuyện trong lớp, chăm chú nghe thầy cô giảng. Khi đặt câu hỏi, tính rụt rè nhút nhát đâu chả thấy nhường chỗ cho những câu trả lời mà cả lớp chưa ai nghĩ ra. Em rất giản dị, với những bộ đồ mặc lặp đi lặp lại, nhưng bao giờ cũng rất sạch sẽ. Tìm hiểu tôi mới biết hoàn cảnh gia đình em rất khó khăn, gia đình đông con, bố mẹ đều làm nông. Nhưng không vì thế mà em không cố gắng, ba năm em đều đạt học sinh tiên tiến, lại lễ phép, ngoan hiền. tôi nhận thấy có nhiều điều mà tôi có thể học lại từ chính học sinh của mình, khó khăn đấy, nhưng ý chí con người không lùi bước, vất vả đấy, cần cù chịu khó ta có thể vượt qua…

Trường Tân Lang đang trong quá trình hoàn thiện và phát triển, nhà trường có tổ chức các cuộc thi văn nghệ tạo sân chơi cho các em, các giải bóng đá cũng đã được tổ chức thu hút rất nhiều các vận động viên tham gia. Câu lạc bộ phát thanh cũng được thành lập. Chỉ với một chiếc loa buộc trên cây tre, các em học sinh lắng nghe những bài hát, những đoạn thơ và bài bình luận để biết thêm tin tức và tình hình học tập trong nhà trường. Bốn năm qua nhanh như một cơn gió thoảng, nhiều thầy cô đến nhận công tác, vì do lý do gia đình, lại phải chuyển đi, các thầy cô mới lại vào, tôi cũng là một trong những trường hợp như thế. Rời xa mái trường Tân Lang, tôi vẫn nhớ như in lời thầy Hiệu trưởng Lò Xuân Dừa dặn dò: Dù rất tiếc nhưng ở đâu cũng là cống hiến cho giáo dục, mong em phát huy…

Tôi nhớ trường, nhớ lớp, nhớ các em học sinh, nhớ mưa bụi lất phất, nhớ cảm giác rét cắt da cắt thịt… Tất cả nay chỉ còn là những kỉ niệm về một quãng thời gian thật đẹp trong cuộc đời làm giáo viên của tôi. Ngày trở lại trường, tôi rất bất ngờ với cơ sở mới khang trang sạch đẹp, các em học viên được tạo điều kiện tốt nhất cho việc học tập, nhà trường có bếp ăn bán trú, có thư viện với nhiều đầu sách, có phòng họp, phòng chức năng khang trang. Thầy cô nay không còn ở trong những phòng gỗ nhỏ cong vênh, mà được ở tập thể. Tiếng trẻ em bi bô tập nói, đâu đó, ánh mắt xanh của học trò mơn man đôi má đào ướt mồ hôi tập luyện những điệu múa, bài hát. Tất cả đang ngày một phát triển và đổi mới vì bao công xây đắp của các thế hệ thầy và trò… Tân Lang, mảnh đất đầy nghĩa tình đang ngày ngày được thay da đổi thịt, tri thức và niềm tin đã thắp sáng bao ước mơ của các em đang ngày ngày cắp sách tới trường, trong những ước mơ ấy, tôi nhận thấy rất rõ những tâm huyết của người thầy, có thể điều này viết ra là sáo rỗng với bạn đọc, nhưng chính tôi, tôi cũng đã tâm huyết như thế, bội thu của giáo viên là sự trưởng thành của học sinh, là cuộc sống của cá nhân các em ngày càng vững vàng bản lĩnh, và bất chợt, trong lòng tôi chợt ngân nga câu thơ của nhà thơ Tố Hữu: Mình về mình có nhớ ta/ Ta về ta nhớ những hoa cùng người…

TG. Kha Thị Thùy Vinh

(Công tác tại trường từ 2007-2012)

 

 

KHOẢNH KHẮC NGÀY CHIA XA

 

Vậy là một mùa hè nữa lại đến, vẫn cái không khí, khoảnh khắc và thời gian ấy, thế nhưng mùa hè năm nay thật khác biệt phải không các bạn ? Mùa hè năm 2012 là mùa của sự chia li, của những giọt nước mắt học trò, của những ước mơ hoài bão, của những khát khao cháy bỏng. Chưa bao giờ thời gian lại trở nên lắng đọng và thiêng liêng như lúc này. Trong cái thời khắc quý giá này chắc hẳn trong tâm hồn mỗi chúng ta lại dâng lên những cảm xúc khó tả, những kỉ niệm, tình cảm thiêng liêng.

Đối với em trong lúc này, chẳng biết em có thể dùng từ nào để diễn tả được chính xác những cảm xúc trong lòng mình: buồn ư ? hạnh phúc, nuối tiếc, bối rối, hay....tất cả đều không phải. Hay phải chăng là sự pha trộn của tất cả những dòng cảm xúc ấy. Chính em trong cái thời khắc thiêng liêng này cũng không thể hiểu nổi cảm xúc của chính mình.

Ba năm học THPT, đồng nghĩa với việc đã ba năm học tập và gắn bó với ngôi trường THPT Tân Lang. Khoảng thời gian 3 năm không phải là quá dài, nhưng cũng không hề ngắn ngủi chút nào. Con số 3 năm ấy cũng đủ để lưu lại trong lòng chúng em những cảm xúc, kỉ niệm khó quên.

Chúng em, những HS của trường THPT Tân Lang, tuy không được gắn bó với trường từ những ngày đầu thành lập, chưa phải trải qua thời kì khắc nghệt, khó khăn nhất, nhưng có lẽ những kỉ niệm với trường, với lớp sẽ thật khó có thể phai mờ trong tâm trí chúng em.

Làm sao có thể quên được những ngày dầu bước chân vào cổng trường cấp ba rộng lớn, khi lớp học chưa có vì trường mới chỉ đang trong quá trình thi công xây dựng. Vậy là tất cả mọi hoạt động từ học tập đến tổ chức những buổi ngoại khoá đều phải nhờ vào sự giúp đỡ của trường THCS. Rồi những tấm prô, tấm ván, phên liếp....Giữa cái lạnh buốt của mùa đông, từng đợt gió mùa đông bắc tràn về, luồn qua từng khe cửa mang theo cái lạnh giá tê buốt đến cắt da, cắt thịt. Rồi cứ sau những trận mưa rào chợt đến, chợt đi thì sân trường lại lầy lội những bùn lầy, có khi ngập tới mắt cá chân, nước ngập khắp nơi tràn vào cả lớp học. Những lúc ngồi trong lớp mà thỉnh thoảng lại lộp độp từng hạt mưa rớt xuống từng trang vở, hay những khi mưa hắt ướt hết cả lớp, những khi gió bão làm lật tung những tấm prô....Trong cái nắng oi ả gay gắt của ngày hè với nhiệt độ trong lớp có khi lên tới hơn 40 độ C, không một cánh quạt, hay luồng gió mát thổi qua, cả thầy và trò đều lấm tấm những giọt mồ hôi...Những lúc khó khăn ấy càng cần nghị lực hơn lúc nào hết. Bất chấp những khó khăn ấy cả thầy và trò trường THPT Tân Lang vẫn luôn sát cánh bên nhau, giành cho nhau những tình cảm cao quý để vượt qua tất cả, tình thầy trò càng thêm thắt chặt.

Làm sao có thể quên được hình ảnh thầy hiệu trưởng đứng giữa trời mưa, chân đeo ủng, bảng viết chữ là một tấm phông được căng tạm bợ. Vậy mà thầy vẫn miệt mài truyền nhiệt huyết của mình vào trong bài giảng. Nhớ mãi cứ mỗi buổi chào cờ, thầy luôn động viên nhắc nhở chúng em vượt qua khó khăn để cố gắng học tập. Những lúc ấy em càng thấy thương và kính trọng thầy biết nhường nào.

Làm sao em có thể quên được một thầy hiệu trưởng luôn tận tuỵ, tâm huyết với nghề. Một thầy hiệu phó với tính cách thẳng thắn, cách làm việc khoa học, mỗi câu nói của thầy dường như đều mang một sức nặng. Nhớ mãi hình ảnh người thầy với vẻ mặt trầm ngâm, dường như có vẻ lạnh ngắt nhưng bên trong cái vẻ ngoài ấy lại là một tấm lòng nhiệt huyết, mang trong mình một đại dương tình cảm mà thầy dành cho HS.

Các thầy trong BGH không chỉ dạy cho chúng em những bài học trong sách vở, mà chúng em còn học được từ các thầy sự tự tin, tinh thần cầu tiến, tính tiết kiệm, hay cách ứng xử....Các thầy thật sự là những tấm gương sáng cho thế hệ chúng em noi theo.

Làm sao chúng em có thể quên những giây phút tâm sự chân thành giữa GV và HS. Qua những câu chuyện ấy, tình cảm giữa chúng em và thầy cô lại càng trở nên gần gũi biết bao nhiêu.

Nhớ ! Nhớ ! Nhớ ! Chao ôi có biết bao chuyện nhớ mà có lẽ kể ra sẽ chẳng bao giờ hết. Bây giờ khi được học trong lớp học mới khang trang hơn nhiều trong lòng chúng em lại vui mừng khôn tả....

Chúng em, những người con của núi rừng Tây Bắc, thầm cảm ơn các thầy cô đã đem đến cho chúng em những bài giảng hay nguồn tri thức mới, hay những tình cảm đặc biệt. Chúng em biết rằng: đằng sau những bài giảng là cả một sự cố gắng, nỗ lực không ngừng. Những thầy cô từ những vùng đất xa xôi mang tri thức gieo mầm nơi vùng đất còn nghèo khó này, đã có lúc phải rơi nước mắt vì nỗi nhớ nhà, nhớ cha mẹ, có biết bao nhiêu đêm ngồi khóc thầm trong nỗi nhớ, những đêm khuya mệt mài soạn giảng bên trong giáo án. Nhưng có lẽ vượt lên trên tất cả những khó khăn đó là lòng yêu nghề, yêu trẻ, khát khao được cống hiến đã khiến thầy cô gắn bó với trường trong những năm vừa qua:

Tuổi thật thầy cô tính bằng mùa khai sáng

Mỗi lứa bàng rơi một tuổi vàng

Cánh phượng ép vào trang giáo án

Chờ đò quên đến chuyến sang ngang

Chúng em chẳng biết nói gì hơn

 

Chúng em chẳng biết nói gì hơn ngoài lời cảm ơn chân thành xuất phát từ sâu thẳm trái tim “chúng con cảm ơn thầy cô”.

Các bạn thân mến! Rồi mai đây chúng ta sẽ giang đôi cánh để bay vào khoảng không của cuộc đời. Ở đó có sóng gió, có vui buồn, thất bại và có khi có cả những giọt nước mắt. Vậy thì giờ phút này, ta hãy để tâm hồn lặng im trong giây lát để sống lại với những kỉ niệm trước đây, trở về một thời quá khứ tươi đẹp. Chỉ một thời gian ngắn ngủi nữa thôi, chúng mình sẽ chẳng gặp nhau, gặp những gương mặt thầy cô kính mến, những đứa bạn tinh nghịch. Còn đâu những giờ ra chơi náo nhiệt, đứa thì cấu véo, chơi đùa, đứa thì đuổi nhau khắp lớp. Nhớ sao những lúc giận hờn vu vơ, những buổi píc ních đầy thú vị, những giây phút liên hoan ngồi lại bên nhau để cùng tâm sự, sẻ chia tình cảm. Nhớ từng nụ cười và cả những giọt nước mắt.

Vâng! Các bạn ơi, các bạn đừng lặng im nữa, hãy tâm sự với nhau những gì mà bạn đang nghĩ hay nói ra những điều mà bạn đang ấp ủ bấy lâu trong lòng, hãy chia sẻ tình cảm cho nhau bạn nhé. Chỉ còn vài ngày nữa chúng ta ai nấy đều phải bước vào một kì thi quan trọng của đời mình. Chúc tất cả các bạn thành công.

Khi rời xa mái trường, mỗi chúng ta lại chọn cho mình một ngã rẽ riêng. Có bạn sẽ tiếp tục bước chân vào cổng trường đại học, cao đẳng, có bạn lại trở thành một doanh nhân hay một nông dân thành đạt...Dù làm gì, ở đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào thì cũng xin các bạn hãy nhớ về một thời học trò. Nhớ mãi khoảnh khắc thiêng liêng này các bạn nhé.

Hạ, hạ ơi ! Xin ngừng trong phút chốc

Để cái xiết tay nhau sẽ được chặt thêm

Để lấp đầy những khoảng trống chông chênh

Khi bao điều dở dang chưa nói hết

Vâng! Nếu có thể được em ước mong gì thời gian sẽ ngừng lại trong giây lát để chúng em có thêm thời gian sống bên nhau nhiều hơn, quan tâm, học tập với nhau nhiều hơn. Nhưng có lẽ ước muốn ấy sẽ chẳng trở thành hiện thực trừ khi có phép tiên nào đấy xuất hiện trong cuộc đời trần thế này. Dù dòng thời gian có khắc nghiệt đến đâu chăng thì chúng em, dù đi đâu, ở đâu, ở bất cứ nơi nào vẫn mang trong mình hình bóng, kỉ niệm của ngôi trường thân thương, một thời áo trắng tới trường. Và em sẽ luôn tự hào, dõng dạc khi được nói rằng: mình là HS trường THPT Tân Lang.

TG. Bùi Thị Nụ, HS lớp 12A, 2009 – 2012

(Giải Nhì, môn Ngữ Văn cấp tỉnh, 2011 - 2012)

 

 

 

 

 

 

NHNG TRANG THƠ

NHỮNG NGÀY ĐẦU GIAN KHÓ

 

 

 

Mùa thu, ngày đẹp trời,

Tôi đến ngôi trường mới.

Làm cô của học trò,

Nghề tôi hằng mơ ước,

Từ thủa còn ấu thơ.

 

Thật chẳng giống như mơ,

Trường học nhờ “cơ sở”.

Phòng hội đồng đơn sơ,

Mượn tạm nhà dân ở

Ngăn vách nứa làm tường.

 

Mấy tháng đầu không lương,

Ứng tạm tiền sinh hoạt.

Ở trọ nhờ nhà dân,

Tôi cũng đã quen dần,

Với chỗ làm, chỗ ở.

 

Thời tiết thật khó quen,

Mưa phùn ròng suốt tháng.

Áo quần phải năng phơi,

Hong sấy lửa gió trời.

Nếu lười không đủ mặc.

 

Học trò vất vả hơn.

Em nhà xa cách trở.

đường đi lại khó khăn.

Nhà tưởng như rất gần.

Phải vượt đèo, lội suối.

 

Mùa đông trời sương muối,

Mưa phùn lạnh buốt chân.

Mỏng manh bộ áo quần,

Khoác hành trang tri thức,

Tự tin bước vào đời.

 

Thương học trò nhiều lắm.

Thầy cô cùng quyết tâm,

Khắc phục mọi khó khăn.

Miệt mài trang giáo án.

Giảng bài trò hăng say.

 

Đã đôi lần tôi muốn,

Về với mẹ quê hương,

Nhưng học trò thân thương,

Tình người càng ấm cúng,

Đã níu chân tôi lại,

Bên mái trường Tân Lang.

TG. Thân Thị Huệ-GV.Toán

 

 

CÔ GIÁO TRẺ

Đêm khuya sương giăng đầy

Ngọn gió đông lay lắt

Khu nhà tạm lặng ngắt

Nhạc côn trùng

chơi vơi...

 

Bên đèn khuya rạng ngời

Cô giáo trẻ miền xuôi

Cõng chữ lên miền ngược

Thao thức cùng giáo mây.

 

Giáo án cô đong đầy

Trong tim bao dự định

Mỗi buổi mai lên lớp

Dạy trò những điều hay.

 

Quyện thân cô mỗi ngày

Sương gió và mây bay

Thảng hương rừng gió núi

Cô thấy mình đắm say.

 

Hiện trong cô mỗi ngày

Đàn em nhỏ thơ ngây

Tháng ngày vượt dốc núi

Đến trường học điều hay.

Tháng 11/2007

TG.Lò Xuân Dừa

 

MÁI TRƯỜNG XƯA

Trường nhỏ ẩn dưới chân đồi chè mướt

Mây trắng giăng trên nóc mái nhà tranh.

Vén ẩm ướt nghe chồi non thủ thỉ

Những ước mơ bay bổng hóa thiên thần.

Lán học nhỏ xôn xao lời em hát

Nghị lực phi thường viên phấn hóa thành thơ

 

Mắt tròn xinh lung linh theo lời giảng

Cô Tấm ơi, quả thị đợi mơ vàng

Có học trò thức dậy từ mờ đất

Vượt đèo Đung trơn trượt cơ hàn

Tay cầm dép, tay cầm sách em bước

Ánh trời hồng đang ló rạng đằng xa

Bản Tiên Lang, bản Khẻn, bản Do.

Bản Cải, bản Ban, Suối Cốc, Suối Bí.

Địa danh xa gần các em mang đến lớp

Giọt mồ hôi lưng áo ướt, mờ sương.

Trường em đây, lớp nhỏ, mái pro

Có cô giáo xinh xinh chờ em tới

Giảng em nghe bao điều hay lẽ phải

Cô tiên cười trong giấc ngủ thật hiền

Em mơ về một câu hát xa xôi,

Thánh Gióng kia hóa anh hùng bất hủ

Truyện cổ tích có trong đời thực

Bằng khát vọng tri thức đổi đời

Chiếm lĩnh và khẳng định để vượt qua

Rào cản xa xa hay chính bản thân mang lại

Cố gắng kia bao trùm cả sợ hãi.

Em dõng dạc, đường hoàng mang tri thức mở mang

Trường em đó, Tân Lang tình nghĩa

Thổi bùng lên ngọn lửa của đam mê.

Mới đó thôi mà mười năm rồi tròn trịu

Em về đây cùng hội họp mái nhà

Gặp lại thầy cô, gặp lại tiếng cười

Gặp cả miền bâng khuâng xưa đầy lưu luyến

Tân Lang ơi, hãy cất cao tiếng hát

Chúng con nghe và thấm thía thời gian/.

TG.Kha Thị Thùy Vinh

– GV Ngữ Văn

NỖI LÒNG

Tám năm ròng con đường theo nối nhỏ

Lần bước đi theo buổi sớm sương mờ

Đến mái trường ươm hạt những mầm xanh

Lòng vui sướng nhiều em đã trưởng thành.

 

Tôi lặng yên ngắm nhìn lớp em trẻ

Tuổi đôi mươi sánh bước trên đường đời

Xa mái trường nhưng nhớ mãi tình xưa

Tình thầy trò thoang thoảng cánh tay đưa.

TG. Nguyễn Duy Hùng

- GV Ngữ Văn

 

 

NỖI NHỚ

Lại một tết nữa con không về với mẹ

Công việc bù đầu chẳng làm con vơi bớt

Nỗi nhớ nhà, nhớ cha mẹ, nhớ quê

Tân Lang mùa này quặn mình trong gió rét.

 

Chiếc khăn mẹ tặng ngày mới vào Đại học

Con vẫn quàng khi gió rét mùa đông

Nghệ Tĩnh xa rồi Nghệ Tĩnh ơi

Đất Nghĩa Đàn - tạm biệt nhé con đi.

 

Đất Sơn La đón con chiều nắng đổ

Núi tiếp núi và con đường đất đỏ

Ngập ngụa bùn vào những ngày mưa

Con đi theo tiếng gọi của trái tim.

 

Của ánh mắt nồng nàn và tình yêu cháy bỏng

Với một nghề cao quý – mẹ thường khen

Nghề dạy học – “nghề kĩ sư tâm hồn”

Là duyên nợ cuộc đời nghề tôi vẫn tin yêu./.

TG. Vũ Thị Như Hoa (GV. Ngữ Văn)

 

 

THI ĐUA KỈ NIỆM TRƯỜNG 10 NĂM THÀNH LẬP

 

Thay nhà trường thông báo.

BGH truyền rằng:

Sắp tới kỷ niệm 10 năm của trường THPT Tân Lang

Sao các trò lại không cố gắng.

Như lớp lớp học trò đi trước.

Vẫn xứng danh là đấng anh hào.

Và đến năm học nào cũng vậy.

Thi đua lập thành tích cho mình

Từ khối mười, mười một, mười hai.

 

Cùng một mục tiêu chung phía trước

Tuy cố gắng mức độ khác nhau

Song ai ai cũng đều háo hức

 

Vậy nên:

Năm nay.

Lớp 10A – Cô Thu Hà chủ nhiệm

Lớp 10B – Cô Nguyễn Hà không thua

Lại còn cô Trần Hạnh 10C

Cùng 10D – Thầy Sĩ quyết tâm.

Còn nữa đó 10E - xin hứa

Cùng Thầy An cố gắng hết mình.

Lớp 10G - cũng xin điểm mặt

Cùng cô Thảo gặt hái thành công

 

11A - Cô Thùy đã hứa

Sẽ thành công cùng các học trò

11B – Mùi Ứơc tiên phong

Dành danh hiệu tiên tiến nay mai

11C Thanh Thùy cũng vậy

Quyết không thua mấy lớp đi đầu

11D - cô Khánh vững vàng

Cùng học trò tiến lên phía trước

11E - thầy Toàn không nản

Quyết vực dậy tinh thần đoàn kết

Của lớp mình chủ nhiệm năm nay

12A – cô Học hết mình

Trò quyết tâm cô cũng sẵn sàng

12B - thầy Trọng quan tâm

Nên học trò càng thêm chăm chỉ

12C – thầy Thiện yêu thương

Cố gắng lên thầy trò gặt hái

Những thành công – quả ngọt đầu mùa

12D - thầy Cường cố gắng

Cùng học trò tốt nghiêp trăm phần trăm.

Mới hay:

Tổ Tiếng Anh: Cô Đào, Cô Thảo

Cùng Phương Thùy với cả hai cô

(Cầm Bình, Thu Hà)

Quyết tâm đưa Tiếng Anh phủ khắp

Sáu xã vùng Mường – đất quê ta.

Tổ Toán-Tin cũng quyết không thua.

Cô Huệ, cô Hương, thầy Thành,Thầy Hải

Cô Phạm Phượng ,thầy Khuyến, Cô Dân.

Tất cả đều cùng chung mục đích

Đưa Toán học và Tin về với

Những học sinh yêu mến mái trường.

Tổ văn đó – đâu kém phần hoành tráng.

Thầy Dừa, Thầy Ban, Cô Lệ, Thầy Hùng

“Tứ bất tử” của Tân Lang ta đó

Cùng cô Hoa, cô Bản, cô Thoa

Mang văn chương về với mái trường

Để không còn” Chí Phèo”, “Lão Hạc”

Giữa cuộc đời tươi đẹp hôm nay.

Tổ Sinh- Hóa – TD cũng xin góp mặt

Thầy Trụ, Thầy Cường, Cô Hà (sinh) thầy Ứơc

Cô Học, thầy An, cô Khánh, thầy Thùy, thầy Thiện

Xin được cùng các tổ góp công.

Nâng sức khỏe cùng tri thức các em

Lên ngang tầm vĩ mô có thể

 

-Tổ Lý – Kỹ quyết không kém cỏi

Thầy Trần Thao, cô Thảo Thầy Hùng.

Còn nữa đó: Thầy Toàn, thầy Trọng

Quyết dựng xây trường mình tiên tiến

Bằng bản vẽ Công nghệ tuyệt vời

 

-Tổ Sử -Địa –Công dân cũng vậy.

Cô Ngân, cô Huyền, thầy Đại cô Hà (gdcd)

Không thể thiếu Thầy Bình, Cô Hạnh

Đã quyết tâm là sẽ làm nên

Một trang sử hào hùng cho tổ

Lập chiến công vang dội cả trường.

Cùng với các thầy cô còn lại

 

-Tổ Văn phòng không thể nhắc tên.

Thi, Đăng, Phúc – ba chàng pháo thủ

“Ngự lâm quân” canh giữ cổng trường.

 

Còn đồng chí Dương, Minh thư viện

Sách lúc nào cũng đầy một kho

 

Chưa kể tới Nhung, Trang - đồng chí.

Cùng y tế anh Kỳ góp mặt

Và anh Đông kế toán của trường

Luôn chăm sóc học sinh bán trú

Từ miếng ăn, giấc ngủ ngon lành

 

Còn nữa đó những thầy cô giáo

Đã ra đi từ mái trường này

Đến nơi mới dựng xây cuộc sống

Tươi đẹp hơn cho các học trò

Cô Vinh, Thầy Hùng (sử), cô Hiền còn nhớ

Cô Bình (văn), cô Duyên, thầy Nhật, cô Lê

 

Thầy Hồng Hà cùng cô Hải nên duyên

Còn thầy Bình (Toán) nho nhỏ thư sinh

Đã xa rồi – kỉ niệm khó quên.

Thấm thoắt đã mười năm có lẻ

Liệu thầy, cô còn nhớ quay về

Cùng học trò Tân Lang kỉ niệm

Mười năm tròn thành lập trường ta

Bởi Thế:

Sắp kỉ niệm mười năm thành lập

Thầy trò hãy cùng nhau cố gắng

Gặt hái nhiều thành tích cao hơn

Để trường mình ngày càng vững chắc

Một nền tảng tri thức vững vàng.

Biến khát vọng thành cánh buồm đỏ thắm

Chở ước mơ xanh đi khắp mọi nẻo đường.

 

Xa gần bá cáo – Thầy trò đều hay./.

TG. Vũ Thị Như Hoa

(GV. Ngữ Văn)

 

 

TÂN LANG XƯA-NAY

Tân Lang, ngày ấy- bây giờ

Mười năm sức trẻ đợi chờ mai sau

Buồn-Vui-Sướng-Khổ-Tình sâu

Ngôi trường xây dựng từ lâu đến giờ...

 

Ngày ấy gian khổ nên thơ

Nên duyên chồng vợ đôi bờ Tình yêu

Ngày nay gian khổ đỡ nhiều

Bao thầy trò giỏi lắm điều vui tươi.

 

Ngôi trường ta vẫn đang xây

Dày công gieo chữ mỗi ngày tốt lên! Tháng 5 năm 2016

Tg. Lò Xuân Dừa

 

TRƯỜNG TÔI

 

Nơi tôi đến – trường THPT Tân Lang

Không sân gạch – không một bóng cây to

Nơi tôi dạy – những ngôi nhà bé nhỏ

Thấp lè tè, mưa gió dột lung tung.

 

Nhưng nơi đó có đầy tình thương mến

Sáu tổ chuyên môn kiến thức vững vàng.

Văn – Toán – Địa – Công dân và Lịch Sử

Và Thể dục – Sinh hóa cùng Tiếng Anh .

 

Và tổ tôi: Lý + Công nghệ tự hào

Có những thầy cô vô cùng giản dị

Thầy Trọng, thầy Toàn, thầy Sỹ, thầy Thao

Cùng cô Thảo, thầy Lường Hùng vui tính.

 

Luôn hết mình với những học trò yêu

Tổ trưởng đầu tiên: thầy Hồng Hà có nhớ

Năm năm rồi, thầy xa đất Tân Lang.

Thầy có biết trường mình giờ đổi khác

 

Mười năm rồi - nơi tán lá, hàng cây

Dù mưa nắng, thầy cô mình vẫn vậy

Vẫn cặm cụi bên từng trang giáo án

Vẫn ngọt ngào bên những ước mơ xanh.

 

Trường tôi đó – mười năm xây dựng

Chưa khang trang nhưng rất đỗi tự hào

Bao thế hệ đã từ đây tiến bước

Chở ước mơ trong sáng ánh tươi hồng.

Tg. Trần Xuân Thao

(Giáo viên môn Vật Lí)

 

CẢM ƠN TÂN LANG

Cảm ơn trời đất xứ Mường

Cho ta một ngôi trường Tân Lang

Khó khăn mấy cũng sẵn sàng

Bền tâm vững chí ta càng hăng say.

 

Yêu trường yêu lớp mỗi ngày

Con ong làm mật dựng xây tiền đồ

Ngôi trường in dấu thầy cô

Buồn vui dõi bước học trò lớn khôn./.

Tg. Lò Xuân Dừa